ĐÌNH THƯỢNG ĐIỆN – DẤU ẤN LINH THIÊNG GIỮA LÒNG QUÊ VINH QUANG
ĐÌNH THƯỢNG ĐIỆN

Men theo quốc lộ 37, rời trung tâm thị trấn Vĩnh Bảo khoảng ba ki-lô-mét về phía Nam, trong nhịp sống đang từng ngày đổi mới của vùng quê đồng bằng Bắc Bộ, hiện lên một không gian trầm mặc, cổ kính như tách khỏi dòng chảy thời gian. Giữa nền trời xanh thẳm, dáng mái đình cong mềm như cánh buồm no gió, Đình Thượng Điện lặng lẽ soi mình xuống làng quê Vinh Quang – nơi hội tụ linh khí, lịch sử và truyền thống văn hóa lâu đời của vùng đất Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
Đình Thượng Điện là di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia, được Nhà nước xếp hạng năm 1999. Ngôi đình là nơi thờ Đức Thánh Đại Lực – vị tướng tài ba thời Hùng Duệ Vương, người có công phò vua, giữ nước và che chở cho nhân dân vùng Thượng Khu xưa, nay là Thượng Điện.
Theo truyền thuyết dân gian, Đại Lực sinh ra trong một gia đình họ Công ở đạo Sơn Nam, cuộc sống nghèo khó nhưng giàu lòng nhân ái. Cha mẹ ông hiền lương, nhân nghĩa, muộn mằn con cái, đến khi tuổi đã cao mới sinh được người con trai duy nhất. Ngay từ thuở nhỏ, Đại Lực đã sớm bộc lộ tư chất phi thường: mới lên bảy tuổi đã tinh thông võ nghệ, đặc biệt giỏi thổi sáo ống dài, tiếng sáo vang vọng núi rừng như mang theo linh khí đất trời. Hai mươi tuổi, khi song thân qua đời, cũng là lúc vua Hùng kén chọn hiền tài giúp nước. Đại Lực ứng thí và được nhà vua trọng dụng.
Khi giặc ngoại xâm tràn vào bờ cõi, Đại Lực được giao trọng trách cầm quân đánh giặc. Ngay trong trận đầu, quân thù đại bại, tháo chạy tan tác. Thừa thắng xông lên, ông tiến quân về vùng Hải Dương, Ninh Giang, Cựu Điện rồi dừng chân tại Thượng Khu để lập đồn trấn giữ. Không chỉ là một vị tướng nơi trận mạc, Đại Lực còn là người gần gũi với nhân dân, chiêu mộ dân làng, giúp họ khai khẩn ruộng hoang, phát triển sản xuất, ổn định đời sống. Khi ông mất tại núi Nghĩa Lĩnh vào ngày 10 tháng 8 âm lịch, nhân dân Thượng Khu đời đời ghi nhớ công lao, lập đình thờ phụng, tôn ông làm Thành hoàng làng.
Đình Thượng Điện tọa lạc ở vị trí đầu làng, quay mặt về hướng Tây Nam, không gian khoáng đạt, hài hòa với cảnh quan xung quanh. Khuôn viên đình rộng rãi, trước sân nổi bật hai cây bàng cổ thụ hàng trăm năm tuổi, tán lá xòe rộng như hai chiếc ô xanh che chở cho mái đình cổ kính. Năm 2014, hai cây bàng này đã được Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam công nhận là Cây Di sản Việt Nam, càng làm tăng thêm giá trị lịch sử – sinh thái cho di tích.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Ngôi đình có lịch sử lâu đời, trải qua nhiều lần trùng tu, lần gần nhất vào năm 2007. Kiến trúc đình theo kiểu chữ “Công”, gồm năm gian tiền đường, một gian ống muống và ba gian hậu cung. Mái đình đắp thẳng, hai đầu hồi chồng đấu ba tầng, bờ mái trang trí tứ linh “long – ly – quy – phượng” mềm mại, tinh xảo, tạo nên dáng vẻ uy nghi mà vẫn đậm chất truyền thống. Hệ thống hiên rộng, lát đá xanh mài nhẵn, cột hiên bằng đá vuông chắc khỏe, trên thân cột khắc câu đối chữ Hán ca ngợi công đức Thành hoàng và cảnh sắc quê hương.
Bên trong đình, bộ khung gỗ bằng gỗ tứ thiết còn khá nguyên vẹn. Các chi tiết kiến trúc như rường, câu đầu, xà nách, cửa võng, cuốn thư đều được chạm khắc công phu với những đề tài quen thuộc trong mỹ thuật truyền thống: rồng chầu, nghê phục, cúc mãn khai, hổ phù… Mỗi mảng chạm là một tác phẩm nghệ thuật sống động, gửi gắm ước vọng của người xưa về cuộc sống ấm no, mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an. Dù mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn muộn đầu thế kỷ XX, song các tác phẩm chạm khắc vẫn thể hiện rõ bàn tay tài hoa của các nghệ nhân dân gian.
Hậu cung đình gồm ba gian rộng rãi, bài trí ngai thờ, khám thờ, tượng thờ trang nghiêm. Gian cung cấm là nơi ngự của Đức Thành hoàng, mang không khí linh thiêng, cổ kính. Nội thất đình được trang trí lộng lẫy với hệ thống hoành phi, câu đối, cửa võng, đồ thờ quý như đỉnh hương, long ngai, bài vị, sắc phong, thần tích… tất cả đều được gìn giữ cẩn trọng, thể hiện lòng thành kính và ý thức bảo tồn di sản của nhân dân địa phương.
Hiện nay, đình Thượng Điện còn lưu giữ được một bản thần phả cùng ba đạo sắc phong của các triều đại nhà Nguyễn: sắc phong thời Cảnh Thịnh năm thứ 4 (1795), sắc phong thời vua Thành Thái năm thứ nhất (1889) và sắc phong thời vua Khải Định năm thứ 9 (1924). Đây là những tư liệu quý giá khẳng định giá trị lịch sử và văn hóa của di tích.
Không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đình Thượng Điện còn là cơ sở cách mạng quan trọng: nơi hội họp của cán bộ, địa điểm làm việc của Ủy ban nhân dân huyện, trường học của xã trong những năm gian khó. Quá khứ hào hùng ấy đã làm nên chiều sâu lịch sử cho ngôi đình cổ.
Hằng năm, vào ngày 10 tháng 3 âm lịch, lễ hội đình Thượng Điện được tổ chức trang trọng trong nhiều ngày. Phần lễ với các nghi thức tế truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa làng quê; phần hội sôi nổi với những trò chơi dân gian như đu sòng, kéo co, cầu thùm, cờ người cùng các hoạt động văn nghệ quần chúng, tạo nên không khí rộn ràng, gắn kết cộng đồng. Đặc biệt, ngày 15/11/2017, Đình Thượng Điện vinh dự đón Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về thăm và dự Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc – một dấu mốc đáng tự hào của nhân dân xã Vinh Quang.
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, Đình Thượng Điện vẫn đứng đó, lặng lẽ mà bền bỉ, như chứng nhân của thời gian, là biểu tượng văn hóa – tâm linh của người dân Vinh Quang. Ngôi đình không chỉ là nơi gửi gắm niềm tin tín ngưỡng mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, hun đúc tình yêu quê hương, gìn giữ cội nguồn cho các thế hệ hôm nay và mai sau.



