ĐINH VĂN MẪU (1)
Ông sinh năm 1924, dân tộc Mường, quê tại xã Phúc Khánh (nay thuộc xã Ngọc Lập), huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ. Ông nhập ngũ năm 1949, công tác trong ngành hậu cần, cụ thể là làm cấp dưỡng tại Tiểu đoàn 11, Trung đoàn 209, Đại đoàn 312. Tư liệu nhấn mạnh sự tận tụy, sáng tạo và dũng cảm của ông trong việc đảm bảo đời sống cho bộ đội trong suốt 8 chiến dịch, bao gồm cả Chiến dịch Điện Biên Phủ. Các nguồn đặc biệt làm nổi bật những sáng kiến của ông trong việc vượt qua khó khăn để nấu cơm, mang lươn
ĐINH VĂN MẪU: “ NGƯỜI ANH HÙNG ‘ TAYD CHỐNG’ NẾP CƠM THƠM MÃI TỚI ĐIỆN BIÊN”
Ông sinh năm 1924, dân tộc Mường, quê tại xã Phúc Khánh (nay thuộc xã Ngọc Lập), huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ. Ông nhập ngũ năm 1949, công tác trong ngành hậu cần, cụ thể là làm cấp dưỡng tại Tiểu đoàn 11, Trung đoàn 209, Đại đoàn 312. Tư liệu nhấn mạnh sự tận tụy, sáng tạo và dũng cảm của ông trong việc đảm bảo đời sống cho bộ đội trong suốt 8 chiến dịch, bao gồm cả Chiến dịch Điện Biên Phủ. Các nguồn đặc biệt làm nổi bật những sáng kiến của ông trong việc vượt qua khó khăn để nấu cơm, mang lương thực cho bộ đội trên những địa hình hiểm trở, dưới làn bom đạn địch, như việc gánh nặng 50-60kg, thậm chí 80kg, sáng kiến gói cơm bằng lá, kéo cơm qua hào địch, hay tích cực tìm kiếm măng, củ, rau rừng để cải thiện bữa ăn cho bộ đội. Ông được Nhà nước tuyên dương Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân vào ngày 7 tháng 5 năm 1956, cùng nhiều huân chương, bằng khen khác.
Từ mảnh đất Phú Thọ, nơi có những cánh rừng và dòng suối, Đinh Văn Mẫu, người con dân tộc Mường, đã sớm bước vào con đường binh nghiệp. Sinh năm 1924, ông nhập ngũ vào năm 1949 và nhanh chóng trở thành một người lính hậu cần, một người cấp dưỡng tận tụy, bền bỉ trong quân đội. Suốt 7 năm liền, ông đã có mặt trong 8 chiến dịch lớn của dân tộc, với nhiệm vụ cao cả là đảm bảo cho bộ đội có những bữa ăn ấm áp, đủ dinh dưỡng để vững bước ra trận. Ông thuộc về Tiểu đoàn 11, Trung đoàn 209, Đại đoàn 312 - một đơn vị đã làm nên nhiều chiến công hiển hách.
Cuộc đời người lính cấp dưỡng của Đinh Văn Mẫu là chuỗi ngày đối mặt với muôn vàn khó khăn, thiếu thốn. Ông thường xuyên phải gánh trên vai những gùi lương thực, thực phẩm nặng từ 50 đến 60 kg, băng qua những đèo dốc, sông suối hiểm trở, bám sát bước chân hành quân của đơn vị. Có những lúc, vì hoàn cảnh đặc biệt, ông đã phải gánh tới 80 kg, chỉ để đảm bảo bộ đội có cơm ăn kịp thời, tiếp tục truy kích địch, hoặc sẵn sàng cho những giờ phút nổ súng quan trọng. Ông không chỉ mang cơm đi, mà còn mang cả tinh thần, sự động viên tới chiến trường. Như trong Chiến dịch Lý Thường Kiệt (tháng 9 năm 1951), khi bộ đội đang truy kích địch xa, ông đã tìm cách động viên anh em hướng theo tiếng súng, bảo đảm cho bộ đội ăn no để tiếp tục chiến đấu.
Trong Chiến dịch Tây Bắc năm 1952, khi nước lũ chảy xiết, ông không quản ngại nguy hiểm, dũng cảm vượt suối trước để kéo dây rừng, giúp đồng đội vượt qua an toàn, đảm bảo cơm nước cho bộ đội trước giờ xung trận. Đặc biệt, trong Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, khi đơn vị phòng ngự trên đồi C1, D1, D2, Đinh Văn Mẫu đã không quản ngại khó khăn, nguy hiểm. Ông ngày đêm đào bếp, nấu cơm, đảm bảo đủ lương thực cho đơn vị mình và còn sẵn sàng giúp đỡ cả đơn vị bạn. Trên chặng đường gần 3km, dưới tầm đại bác và máy bay địch, ông đã thực hiện từ hai đến ba chuyến đi lại mỗi ngày để đảm bảo cơm canh cho bộ đội.
Trong trận đánh mở màn vào Him Lam, đơn vị ông đảm nhiệm hướng thứ yếu. Đêm ngày 12 tháng 3 năm 1954, Đinh Văn Mẫu cùng đồng đội thức trắng đêm nấu cơm, nắm thành từng nắm nhỏ, đóng gói cẩn thận, kèm theo nước uống, để bộ đội mang theo khi ra trận. Đến sáng ngày 13 tháng 3, toàn đơn vị với đầy đủ vũ khí, quân trang, đạn dược, đã có thêm những nắm cơm thơm ngon trên mình, sẵn sàng cho giờ phút lịch sử. Trong đợt tấn công thứ hai, khi đơn vị phải phòng ngự trên các cứ điểm C1, D1, D2, công tác đảm bảo cơm nước càng trở nên vất vả. Đường mang cơm từ D1 sang D2 phải vượt qua đoạn hào nông, ban ngày địch bắn phá dữ dội. Với sự sáng tạo, ông đã có sáng kiến gói cơm thành gói to, ngụy trang cẩn thận, rồi khéo léo buộc dây qua, kéo theo gói cơm, giúp đưa cơm đến từng chiến sĩ an toàn.



