Anh hùng Lực lượng vũ trang

Đinh Văn Mẫu – người anh nuôi đưa cơm qua tầm pháo Điện Biên

Phú Thọ25/08/2026xã Tân Dương (Xã Tân Dương)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

rong ký ức về Chiến dịch Điện Biên Phủ, người ta thường nhắc đến những chiến sĩ xung kích, pháo thủ hay người kéo pháo. Ít người biết rằng giữa những trận địa bị đại bác và máy bay đánh phá, có một người anh nuôi mỗi ngày hai đến ba lần mang cơm, canh và nước uống vượt gần 3km để đến với bộ đội. Người chiến sĩ hậu cần ấy là Đinh Văn Mẫu.

Theo hồ sơ lý lịch, Đinh Văn Mẫu sinh năm 1924, là người dân tộc Mường, quê ở xã Phúc Khánh, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ. Ông nhập ngũ tháng 4 năm 1949. Khi còn ở bộ đội địa phương huyện, ông đã tỏ rõ sự bền bỉ và dũng cảm. Trong hai trận chiến đấu, ông diệt ba quân địch, đưa bảy tử sĩ và ba thương binh ra khỏi khu vực nguy hiểm an toàn.

Sau đó, Đinh Văn Mẫu được vào bộ đội chủ lực, phục vụ tại Tiểu đoàn 11, Trung đoàn 209, Đại đoàn 312. Công việc chính của ông là cấp dưỡng. Đây là nhiệm vụ thầm lặng nhưng quyết định trực tiếp đến sức khỏe và khả năng chiến đấu của đơn vị. Qua nhiều năm, ông liên tục phục vụ trong tám chiến dịch, luôn cố gắng để bộ đội có cơm nóng, nước uống dù đơn vị hành quân hay chiến đấu ở địa hình khắc nghiệt.

Trên đường hành quân, một người cấp dưỡng không chỉ mang nồi niêu và lương thực. Đinh Văn Mẫu thường xuyên phải gánh từ 50 đến 60kg qua đèo dốc, sông suối. Có lần đồng đội mệt yếu, ông gánh tới 80kg mà vẫn theo kịp đơn vị đang truy kích địch, rồi tiếp tục lo đủ cơm canh cho bộ đội. Sức nặng trên vai là lương thực của cả tập thể và cũng là trách nhiệm không được phép đến muộn.

Trong Chiến dịch Lý Thường Kiệt tháng 9 năm 1951, có lần tổ cấp dưỡng mang cơm tới nơi thì bộ đội đã truy kích địch đi xa. Đinh Văn Mẫu động viên anh em lần theo tiếng súng để tìm đơn vị. Họ không quay lại, bởi mỗi giờ chậm trễ có thể khiến người lính phía trước phải chiến đấu trong đói mệt. Cuối cùng, cơm được đưa tới, giúp bộ đội ăn no và tiếp tục truy kích.

Tại Chiến dịch Tây Bắc năm 1952, tổ cấp dưỡng gặp một con suối nước lũ chảy xiết. Đinh Văn Mẫu chủ động vượt sang bờ bên kia trước, dùng dây rừng làm dây dẫn qua suối để đồng đội bám theo. Nhờ vậy, tổ cấp dưỡng sang được an toàn và kịp bảo đảm bữa ăn cho bộ đội trước giờ nổ súng. Với ông, hoàn thành nhiệm vụ nuôi quân cũng đòi hỏi lòng dũng cảm như một trận chiến.

Đến Điện Biên Phủ năm 1954, thử thách càng lớn hơn. Đơn vị của Đinh Văn Mẫu chiến đấu trên các trận địa C1, D1 và D2. Những cứ điểm phía đông này nằm trong khu vực giao tranh quyết liệt, luôn bị pháo binh và máy bay Pháp theo dõi, đánh phá. Đường đưa cơm từ bếp đến trận địa dài gần 3km; mỗi ngày ông phải đi lại hai đến ba lần giữa tầm hỏa lực đối phương.

Bếp phải đặt đủ gần để cơm đến tay người lính còn nóng, nhưng càng gần chiến hào thì nguy cơ bị phát hiện càng cao. Đinh Văn Mẫu cùng đồng đội đào bếp, che khói, chuẩn bị từng suất ăn và tính đường vận chuyển. Họ tranh thủ địa hình, chọn thời điểm phù hợp, mang cơm nước qua những đoạn hào và khoảng trống nguy hiểm. Không chỉ phục vụ đơn vị mình, ông còn giúp đỡ cả đơn vị bạn khi cần.

Trong những ngày lương thực và thực phẩm thiếu thốn, Đinh Văn Mẫu tích cực đi lấy măng, đào củ, hái rau rừng để cải thiện bữa ăn. Ông hiểu rằng một nắm rau hay bát canh nóng không chỉ bổ sung dinh dưỡng mà còn đem lại cảm giác được chăm sóc cho người lính sau nhiều giờ chiến đấu. Khẩu hiệu “ăn no đánh thắng” được người anh nuôi biến thành từng bữa cơm cụ thể ngay giữa chiến trường.

Một sáng kiến giản dị của Đinh Văn Mẫu đã trở thành hiện vật lịch sử. Trong một lần đi hái măng, ông thấy một cây bương lớn, liền cắt một đoạn thân để làm ống đựng canh và nước uống. Chiếc ống dài 28cm, đường kính 10cm, phía trên có lỗ tròn khoảng 3cm; hai lỗ nhỏ bên cạnh dùng luồn dây mang theo. Thân ống dần nhuốm đen vì khói bếp.

So với những trang bị quân sự, chiếc ống bương hết sức mộc mạc. Nhưng trên đường ra trận địa, nó giúp vận chuyển nước và canh thuận tiện, hạn chế đổ vỡ và giúp bộ đội có thêm nước uống, thức ăn. Chiếc ống mang số đăng ký BTHC 1133/ĐM-62 hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Hậu cần Quân đội, như một chứng tích về công việc nuôi quân ở Điện Biên Phủ.

Sau chiến dịch, Đinh Văn Mẫu được tặng Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Ba; được Đại đoàn và Trung đoàn khen thưởng chín lần, được bầu là Chiến sĩ thi đua của Đại đoàn. Ngày 7 tháng 5 năm 1956, ông được tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Năm 1996, khi về Hà Nội dự Hội nghị nuôi quân giỏi toàn quân lần thứ hai và thăm Bảo tàng Hậu cần Quân đội, Đinh Văn Mẫu gặp lại chiếc ống bương của mình. Kỷ vật nhỏ bé ấy gợi lại những chuyến cơm đi qua tầm pháo, những bữa ăn giữa chiến hào và những đồng đội mà ông từng tận tụy phục vụ.

Câu chuyện Đinh Văn Mẫu giúp chúng ta nhìn rõ hơn một sự thật: chiến thắng không chỉ được làm nên ở mũi tiến công, mà còn từ bếp lửa, gánh cơm và ống nước phía sau. Mỗi lần ông vượt gần 3km dưới bom đạn là một lần sức mạnh của hậu phương được đưa tới tận tay người lính. Sự tận tụy của người anh nuôi dân tộc Mường đã góp phần giữ sức chiến đấu cho đơn vị và làm nên thắng lợi Điện Biên Phủ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn