Khác

Đỗ Đức Dục – Người mở lớp đào tạo 42 nhà báo giữa rừng Việt Bắc

Năm 1949, giữa lúc cả nước chỉ có khoảng 300 người làm báo, Đỗ Đức Dục được giao làm Giám đốc Trường dạy làm báo Huỳnh Thúc Kháng. Trong ba tháng, 42 học viên học viết, biên tập, in và phát hành báo ngay tại chiến khu.

Hà Nội22/08/2026Chi Đoàn trường TH&THCS Nguyễn Du (Tuy Đức)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sáng ngày 4 tháng 4 năm 1949, tại xóm Bờ Rạ, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, 42 học viên bước vào một lớp học đặc biệt.

Ngôi trường không có cổng lớn, giảng đường kiên cố hay thư viện đầy sách. Nhà học được dựng bằng tre, nứa và lá giữa núi rừng Việt Bắc. Học viên là những cán bộ chính trị, quân sự và phóng viên từ các cơ quan, đoàn thể, liên khu gửi tới.

Người được giao phụ trách lớp học ấy là nhà báo Đỗ Đức Dục.

Trên tấm biển của trường ghi tên Huỳnh Thúc Kháng – nhà yêu nước, nhà báo từng làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút báo Tiếng Dân. Đây là cơ sở đào tạo nghề báo đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Khóa học chỉ kéo dài ba tháng. Nhưng những người tổ chức hiểu rằng sau khi rời trường, học viên sẽ phải tỏa tới các chiến trường và vùng kháng chiến, dùng những trang báo để đưa tin, giải thích chủ trương, động viên nhân dân và ghi lại cuộc chiến đấu của dân tộc.

Vì vậy, họ không chỉ cần biết viết câu văn hay.

Họ phải học cách làm cả một tờ báo trong điều kiện chiến tranh.

Đỗ Đức Dục sinh ngày 15 tháng 8 năm 1915 tại làng Xuân Tảo, tục gọi là Cáo Đỉnh, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Gia đình thuộc dòng họ có truyền thống khoa bảng nhưng không mấy khá giả.

Nhờ người chú là bác sĩ Đỗ Uông cưu mang, ông được học tại Trường Albert Sarraut rồi Trường Bưởi. Sau đó, Đỗ Đức Dục theo học luật và sớm tham gia các hoạt động văn hóa, báo chí.

Trước Cách mạng Tháng Tám, ông viết cho tạp chí Thanh Nghị. Đây là một tờ báo có sự tham gia của nhiều trí thức trẻ, chuyên bàn luận về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và văn học.

Đỗ Đức Dục vừa làm công việc tòa soạn, vừa viết bài với nhiều bút danh như Đ.Đ.D., Như Hà, Trọng Đức và Tảo Hoài. Ông lược thuật tin tức thế giới, viết bình luận xã hội, dịch văn học, làm thơ và sáng tác truyện ngắn.

Một thống kê chưa đầy đủ cho thấy ông viết khoảng 83 bài trên Thanh Nghị trong giai đoạn 1941–1945 và hơn 300 bài trên báo Độc Lập trong những năm sau đó.

Nhưng với Đỗ Đức Dục, nghề báo không chỉ là khả năng viết thật nhiều. Báo chí phải giúp người đọc hiểu sự việc và có đủ thông tin để tự mình hành động.

Năm 1945, ông được kết nạp vào Đảng Dân chủ Việt Nam, tham dự Quốc dân Đại hội Tân Trào và tham gia công việc chuẩn bị Tổng khởi nghĩa. Trong cuộc Tổng tuyển cử ngày 6 tháng 1 năm 1946, ông trúng cử đại biểu Quốc hội khóa I tại tỉnh Hà Đông.

Được đào tạo về luật, Đỗ Đức Dục trở thành thành viên Tiểu ban dự thảo Hiến pháp. Ngày 9 tháng 11 năm 1946, tại kỳ họp thứ hai của Quốc hội, ông thay mặt Tiểu ban trình bày dự thảo bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Khi Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, Đỗ Đức Dục tiếp tục làm báo tại chiến khu. Ông đảm nhiệm cương vị Chủ nhiệm báo Độc Lập, đồng thời là Phó bí thư Tổng bộ Việt Minh.

Cuối năm 1948, cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn mới. Lực lượng báo chí còn rất mỏng. Năm 1949, cả nước chỉ có khoảng 10 tờ báo với chừng 300 người làm báo. Nhiều cán bộ viết báo từ kinh nghiệm thực tế nhưng chưa từng được đào tạo có hệ thống.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị Tổng bộ Việt Minh mở một trường dạy nghề báo và trực tiếp đặt tên trường là Huỳnh Thúc Kháng.

Ban lãnh đạo trường gồm năm người. Đỗ Đức Dục làm Giám đốc; nhà báo Xuân Thủy làm Phó giám đốc; các nhà báo Như Phong, Đỗ Phồn và Tú Mỡ phụ trách công tác thường trực, giám thị và đôn đốc.

Việc mời giảng viên được tổ chức theo một cách khó có trường báo chí nào về sau có thể lặp lại. Những người trực tiếp đến lớp là các nhà lãnh đạo, nhà báo, nhà văn và nghệ sĩ đang tham gia kháng chiến.

Danh sách có Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt, Lê Quang Đạo, Tố Hữu, Xuân Thủy, Trần Huy Liệu, Quang Đạm, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi, Nam Cao, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu và Thế Lữ.

Người giảng về chính trị và tình hình chiến trường. Người hướng dẫn cách viết xã luận, phóng sự, tin tức hoặc bình luận quốc tế. Người dạy văn học, nhiếp ảnh, trình bày và tổ chức tòa soạn.

Đỗ Đức Dục vừa quản lý trường, vừa trực tiếp lên lớp. Ông đem kinh nghiệm từ những năm làm Thanh NghịĐộc Lập truyền lại cho học viên: trước khi cầm bút phải đọc tài liệu, tìm hiểu bản chất sự việc và biết chính xác mình đang viết cho ai.

Chương trình học không tách rời thực hành. Học viên phải tự viết tin, sửa bài, biên tập, sắp xếp nội dung và tổ chức ra báo. Họ học cả cách phát hành tờ báo trong hoàn cảnh đường sá bị chia cắt và địch liên tục càn quét.

Không có máy tính, máy ảnh kỹ thuật số hay đường truyền tin tức. Bản thảo được viết bằng tay. Việc sửa bài thực hiện trực tiếp trên giấy. Báo phải in bằng những phương tiện thô sơ rồi tìm cách chuyển tới đơn vị chiến đấu và người dân.

Mỗi bài báo còn phải bảo đảm bí mật quân sự. Chỉ một chi tiết sai về vị trí đơn vị, quân số hoặc tuyến vận chuyển cũng có thể gây nguy hiểm cho lực lượng kháng chiến.

Bởi vậy, người học phải rèn đồng thời sự nhanh nhạy và tính cẩn trọng.

Trong thư gửi lớp học, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc rằng người viết báo muốn viết thiết thực phải gần gũi dân chúng, không thể chỉ ngồi trong phòng làm việc. Người viết xong còn phải tự đọc lại nhiều lần, xem bài có dễ hiểu, có đúng sự thật và có ích cho người đọc hay không.

Những lời căn dặn ấy phù hợp với điều Đỗ Đức Dục luôn yêu cầu ở học viên: nghề báo không bắt đầu từ cái tôi của người cầm bút, mà từ nhu cầu thông tin của nhân dân.

Ngày 22 tháng 6 năm 1949, khi khóa học sắp kết thúc, Tổng Bí thư Trường Chinh viết trong sổ lưu niệm rằng khóa đầu tiên là một thử nghiệm rất có ý nghĩa. Ông nhận xét giảng viên và học viên đã cùng nhau tìm tòi, trao đổi kinh nghiệm làm báo trong điều kiện mới.

Ngày 6 tháng 7 năm 1949, khóa học kết thúc.

Do hoàn cảnh chiến tranh, Trường dạy làm báo Huỳnh Thúc Kháng chỉ tổ chức được duy nhất một khóa. Nhưng 42 học viên sau đó tỏa về các cơ quan và chiến trường. Nhiều người trở thành nhà báo, nhà văn, nhà thơ và cán bộ văn hóa có đóng góp quan trọng như Trần Kiên, Mai Thanh Hải, Mai Hồ, Bành Bảo, Hữu Mai, Hải Như và Việt Phương.

Một lớp học ba tháng đã tạo ra những hạt nhân cho đội ngũ báo chí kháng chiến.

Năm 1950, Đỗ Đức Dục được bầu làm Phó chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam khóa đầu tiên. Ông tiếp tục đảm nhiệm nhiều công việc trong lĩnh vực báo chí, giáo dục và văn hóa; từng giữ cương vị Thứ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục và Thứ trưởng Bộ Văn hóa.

Về sau, ông chuyển sang nghiên cứu văn học phương Tây tại Viện Văn học, để lại nhiều công trình về chủ nghĩa hiện thực, văn học Pháp và thời đại Nguyễn Du.

Ông qua đời ngày 24 tháng 9 năm 1993 và được truy tặng Huân chương Độc lập hạng nhất.

Ngày nay, địa điểm Trường dạy làm báo Huỳnh Thúc Kháng tại xã Tân Thái đã được công nhận là Di tích lịch sử quốc gia. Trên mảnh đất xưa, công trình tưởng niệm tái hiện ngôi trường và khắc họa chân dung những người từng quản lý, giảng dạy, học tập ở đó.

Từ năm 1949 với khoảng 300 người làm báo, đến cuối năm 2023 Việt Nam đã có hơn 40.000 người hoạt động báo chí. Phương tiện truyền thông thay đổi từ những tờ báo in thủ công giữa rừng thành báo điện tử, phát thanh, truyền hình và truyền thông đa phương tiện.

Nhưng bài học của Đỗ Đức Dục và lớp báo chí đầu tiên vẫn còn nguyên giá trị.

Một nhà báo có thể sử dụng công nghệ hiện đại nhất, nhưng vẫn phải tìm hiểu sự thật, hiểu người đọc và chịu trách nhiệm về từng thông tin mình công bố. Đó là nền móng nghề nghiệp được đặt từ ngôi trường tranh tre giữa rừng Việt Bắc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn