ĐỖ THẾ CHẤP (1922 - 1991)
Đồng chí Đỗ Thế Chấp (Mười Chấp), tên thật là Đỗ Thế Điện, bí danh Đỗ Thế Mười, Đỗ Quyết. Sinh ngày 10 tháng 02 năm 1922, tại làng Trường An, tổng Đức Tân, phủ Tam Kỳ, nay là xã Tam Xuân 1 huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, trước cảnh quê hương, đất nước bị giày xéo, người dân bị nô lệ lầm than đã sớm khơi dậy tinh thần yêu nước, căm thù giặc trong người học trò Đỗ Diệm.
Năm 1938, mới 16 tuổi đã tham gia các phong trào đấu tranh tiến bộ ở địa phương, rồi được đồng chí Võ Ngọc Bích tuyên truyền về Đảng, giác ngộ cách mạng. Từ năm 1938 đến năm 1941, Đỗ Thế Điện tham gia tích cực các phong trào đấu tranh do đoàn thanh niên phản đế, thanh niên cứu quốc làng Trường An, tổng Đức Tân tổ chức, nhằm đòi quyền dân sinh dân chủ, chống chiến tranh đế quốc, chống bọn địa chủ phong kiến bóc lột.
Do những hoạt động tích cực, ngày 20 tháng 3 năm 1942, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, sinh hoạt tại chi bộ Sông và được cử vào ban vận động cứu quốc tổng Đức Tân, phủ Tam Kỳ. Tháng 4 năm 1942, đang lúc đang hoạt động cách mạng, đồng chí bị địch bắt đưa về giam tại nhà lao tỉnh Quảng Nam (ở Vĩnh Điện, Điện Bàn). Trong nhà lao, có lúc đồng chí bị địch tra hỏi nhưng chỉ trả lời: “Tôi vừa lớn lên tập làm ăn, chăn trâu, cắt cỏ, không biết cộng sản là ai”. Điên cuồng, chúng đánh vào hai ống chân đồng chí, gây sưng lên không đi được, phải bò về phòng giam cầm và được anh em trong lao bóp muối, xoa dầu. Không tìm đủ chứng cứ để kết tội, nhưng chúng cho đây là cán bộ “cứng đầu, nguy hiểm” nên tìm cách đưa xuống giam giữ, sau đó chuyển về giam ở nhà lao Hội An, đến tháng 7 năm 1945, ra tù.
Sau khi về lại địa phương, đồng chí móc nối cơ sở tại tổng Phước Lợi - Đức Tân, Tam Kỳ để hoạt động, tuyên truyền, vận động, tập hợp quần chúng chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Tháng 8 năm 1945, được cử vào Ủy ban bạo động khởi nghĩa tổng Đức Tân và đã đóng vai trò nòng cốt trong vận động quần chúng trong tổng nói chung và ở các xã Tam Sơn, Tam Xuân nói riêng hưởng ứng nổi dậy giành chính quyền, góp phần vào thắng lợi chung trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở phủ Tam Kỳ.
Sau Cách mạng tháng Tám thành công, tháng 3 năm 1946, đồng chí được điều động lên công tác tại huyện Tiên Phước. Tháng 10 năm 1948, về công tác ở Tỉnh Đoàn Quảng Nam - Đà Nẵng, được bầu vào Ban Thường vụ Tỉnh Đoàn. Trong thời gian này, đồng chí tích cực vận động nhân dân tham gia bảo vệ chính quyền, đón đồng bào vùng tạm chiếm vào tản cư; vận động thanh niên tòng quân giết giặc, bảo vệ xóm làng, xây dựng nếp sống mới…
Tháng 01 năm 1950, đồng chí được phân công làm Bí thư Chi bộ nội ô Hội An (vùng địch kiểm soát). Mặc dù hoạt động ở vùng đầy khó khăn, phức tạp, nguy hiểm, song với bản lĩnh kiên cường, chịu khó nghiên cứu, tìm tòi lại thường xuyên bám cơ sở nên trong một thời gian ngắn đã tìm ra phương thức hoạt động hiệu quả ở vùng địch, nhất là phát động được phong trào du kích chiến tranh, tiêu hao sinh lực địch ở nội ô. Công tác ở vùng địch gần ba năm thì đến tháng 10 năm 1952, được điều về công tác ở Tam Kỳ, bổ sung vào Huyện ủy, phụ trách công tác văn hóa - xã hội của huyện.
Sau ngày ký kết hiệp định Giơ- ne- vơ, được Đảng phân công ở lại miền Nam hoạt động bí mật, phụ trách công tác liên lạc của Tỉnh ủy. Để giữ bí mật, đồng chí đổi tên từ Đỗ Thế Điện thành Đỗ Thế Chấp, nhưng cán bộ, đảng viên thường gọi là Mười Chấp và tên gọi này đã gắn với những chiến công và huyền thoạt của đồng chí trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Với nhiệm vụ được giao, đồng chí luôn bám sát cơ sở, xây dựng, móc nối, tổ chức nhiều loại hình liên lạc và đường dây liên lạc thông suốt, nhất là việc giải quyết cho cán bộ đi tập kết, đưa số cán bô, đảng viên còn lại vào hoạt động bí mật; đồng chí còn sáng kiến tổ chức liên lạc hai chiều, bảo đảm thông tin liên lạc giữa tỉnh và liên khu, nhất là việc tổ chức đưa đón lãnh đạo đi công tác trên tuyến Hội An - Tam Kỳ.
Tháng 01 năm 1956, đồng chí được Khu ủy điều về làm Bí thư Huyện ủy Tam Kỳ. Mặc dù hoạt động ngay trong vùng địch, trong lúc nhiều cán bộ bị địch bắt bớ, sát hại. Nhiều lần địch dùng âm mưu, thủ đoạn để tìm bắt Đỗ Thế Chấp, thậm chí chúng âm mưu cho người bỏ thuốc độc vào thức ăn, dụ dỗ, rồi treo giải “ai bắt được hoặc chặt đầu Đỗ Thế Chấp đem nộp được thưởng 1 triệu đồng; chỉ nơi ẩn nấp thưởng 500 ngàn đồng (lúc bấy giờ 1 triệu đồng trị giá hàng chục cây vàng). Tuy vậy, đồng chí vẫn không nao núng, không sợ hiểm nguy, vẫn kiên cường trụ bám cơ sở, từng bước xây dựng và củng cố cơ sở cách mạng, chọn những đảng viên trung kiên để tổ chức thành những chi bộ nhỏ sinh hoạt đơn tuyến để dễ hoạt động, rồi chọn đưa cơ sở vào bộ máy tề ngụy, vào nghĩa quân…
Cuối năm 1959, đồng chí được phân công phụ trách đường dây kinh tế của liên từ Tắk Pỏ xuống Tứ Mỹ. Tháng 01 năm 1960, tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, được bầu vào Tỉnh ủy và sau đó về lại hoạt động ở nội ô Tam Kỳ để mở đường dây vận chuyển lương thực lên căn cứ. Trong thời gian này, bất chấp địch lùng sục gắt gao nhưng vẫn tìm cách cải trang lính ngụy, chọn thời điểm lúc địch sơ hở tổ chức vũ trang tuyên truyền, rải truyền đơn ở nội ô Tam Kỳ… Trong lúc đi rải truyền đơn về gặp 1 trung đội dân vệ đang đánh bạc, bất chấp nguy hiểm, tương quan lực lượng, với bản lĩnh và kinh nghiệm, đồng chí còn bố trí lực lượng nghi binh xung quanh rồi bình tĩnh tiến vào quát với giọng điệu giống hệt “cấp trên” của chúng đi tuần tra: “Bây giờ mà còn chấu đầu đánh bạc hả ? Bọn bay chống cộng kiểu này hả ? Rồi ra lệnh tập hợp chúng lại, tra hỏi tìm người chỉ huy. Sau khi phát hiện trong đám dân vệ có ba tên chỉ huy thì có 2 tên sĩ quan biệt phái về để xây dựng đơn vị dân vệ này, thì đồng chí nhanh chóng ra lệnh cho đồng đội vào trói đưa đi, rồi giải toán đám dân vệ…
Cũng trong thời gian này, đồng chí đã tổ chức được một đội quân mang tên “Ban Kinh tài và Ban thu mua cung ứng cho cách mạng” và bộ phận này đã thực hiện tốt nhiệm vụ, góp phần cung cấp một phần lương thực, hàng hóa phục vụ kháng chiến. Một sáng kiến quan trọng của đồng chí trong thời kỳ này là dùng hầm ni lông để bảo quản lương thực, hàng hóa ở những vùng cát trắng như Kỳ Phú, Kỳ Anh, Kỳ Hòa, Kỳ Xuân, Kỳ Trung… vừa che giấu được địch, vừa bảo quản được hàng hóa, góp phần đắc lực phục vụ hậu cần cho kháng chiến.
Cuối năm 1960, đồng chí được chỉ định về làm Bí thư Huyện ủy Tam Kỳ thay đồng chí Nguyễn Hữu Hồ được điều động đi công tác ở cực Nam. Công tác được một thời gian ngắn thì đến cuối năm 1961 về đặc trách công tác vùng địch hậu. Đến tháng 4 năm 1963, được phân công làm Bí thư Huyện ủy Bắc Tam Kỳ, rồi Bí thư Ban cán sự thị xã Tam Kỳ. Trong thời gian này, đồng chí thường xuyên xuống cơ sở để vận động quần chúng nổi dậy diệt ác phá kèm, đấu tranh chống âm mưu phá hoại của địch; tham gia chỉ đạo thành lập các đội công tác vũ trang tuyên truyền của huyện ở cánh Nam, cánh Bắc và nội thị Tam Kỳ; xây dựng và củng cố các chi bộ Đảng ở Tam Kỳ; vận động thanh niên ra vùng căn cứ tham gia lực lượng vũ trang tập trung; chỉ đạo xây dựng cơ sở nội ô thị xã; chỉ đạo giữ đường dây liên lạc giữa miền núi với tỉnh.
Hè thu năm 1962, trước tình hình địch dùng một lực lượng lớn chính quy và địa phương quân, có phi pháo yểm trợ, càn quét, lấn chiếm vùng giải phóng Kỳ Trà, Tam Kỳ (nay là Tam Sơn, Núi Thành), gây cho ta nhiều tổn thất, đồng chí đã đưa về nhiều ý kiến xác đáng giúp Huyện ủy đối phó với địch như: tổ chức thành đội nhỏ kết hợp với các đội công tác thọc sâu vào hậu cứ địch vũ trang tuyên truyền, diệt ác phá kèm, xây dựng cơ sở, dựa vào quần chúng để phát huy thanh thế cách mạng của quần chúng. Nhờ đó, hầu hết các xã trong huyện đều khởi động được một phong trào cách mạng của quần chúng sôi nổi, đẩy địch vào thế bị động đối phó.
Nhằm giải quyết tình hình khó khăn cho nhân dân ở vùng phía sau lưng địch, nhất là tình hình đói, sốt rét, đồng chí còn táo bạo đề xuất Huyện ủy chủ trương chuyển dân vùng giải phóng về sống hợp pháp trong vùng địch. Mới nghe như mất quan điểm, nhưng thực tế đây là chủ trương nhạy bén và bước đầu đã đem lại tác dụng nhất định, số dân về sống hợp pháp đã giúp cách mạng liên lạc, nắm tình hình địch, đấu tranh với địch để bung ra sản xuất, buôn bán không những ổn định cuộc sống mà còn tham gia cung cấp thực lực cho cách mạng.
Trong thời gian công tác ở vùng địch, để tránh địch phát hiện, đồng chí đã có nhiều sáng kiến cải trang linh hoạt và sáng tạo, lúc thì người gánh gánh đi buôn, lúc thì giả người già ở quê lên thăm cháu… nhờ vào đã vượt qua được sự truy lùng của địch, giữ vững phong trào ở nội ô, nhất là trong hai năm 1963 – 1964, nhờ sự vận động khôn khéo của đồng chí, các cuộc đấu tranh của nhân dân, nhất là học sinh ở Tam Kỳ diễn ra sôi nổi, quyết liệt phản đối địch đàn áp, khủng bố nhân dân.
Thực hiện phương châm “lấy vũ khí địch đánh địch”, năm 1964, đồng chí trực tiếp móc nối cơ sở nội tuyến trong bộ máy tề ngụy, trong dân vệ, bảo an, quốc dân Đảng và nắm được cả đại đội nghĩa quân ở các xã Kỳ Hương, Châu Thành. Nhờ đó, ta đã thu thập được nhiều thông tin quan trọng, vận động binh lính địch cung cấp vũ khí và tham gia vận chuyển ra vùng giải phóng.
Ngoài việc tham gia tổ chức, lãnh đạo các cuộc đấu tranh chính trị, quân sự, xây dựng cơ sở, đồng chí còn tham gia tốt các công tác hậu cần phục vụ chiến trường, đặc biệt là trong những lúc bị địch bao vây cô lập vẫn tìm ra được nhiều biện pháp độc đáo để tổ chức đường dây tiếp tế lương thực, thực phẩm, thuốc men cho cách mạng. Điển hình là vụ vận động nhân dân, binh lính ngụy đấu tranh lật đổ tên Tỉnh trưởng. Tranh thủ thời cơ địch phá hoại hoa màu, mùa màng của nhân dân ở vùng chiến khu, trong đó có một số gia đình lính ngụy, đồng chí đã chỉ đạo cơ sở kích động nhân dân và cả binh lính ngụy nhằm gây sức ép đòi hỏi thay đổi tên Tỉnh trưởng. Trước sức ép của quần chúng đã buộc chúng đổi tên tỉnh khác và bỏ lệnh bao vây phong tỏa kinh tế, tạo điều kiện cho ta mở lại con hành lang, góp phần cung cấp kịp thời các mặt hàng thiết yếu phục vụ chiến trường.
Tháng 3 năm 1965, tại Đại hội Đảng bộ thị xã Tam Kỳ, đồng chí được bầu làm Phó Bí thư Thị ủy, đến cuối năm 1965, được cử làm Bí thư thay đồng chí Đào Đắc Trinh chuyển công tác. Trong thời gian này, trước tình hình Mỹ đổ quân lên chiếm đóng Chu Lai vào tháng 5 năm 1965, một bộ phận cán bộ đảng viên và nhân dân bắt đầu nảy sinh tư tưởng hoang mang, nhất là về khả năng thắng Mỹ, về sức mạnh quân sự của Mỹ như “ra đa mắt thần”, “tia hồng ngoại phát hiện từ xa”…, đồng chí vẫn bình tĩnh, tích cực tuyên truyền cho nhân dân thấy được âm mưu chơi đòn tâm lý của địch và nhận định: “coi chừng chúng chơi đòn tam lý hù doạ ta, cứ đánh rồi biết, tuy nhiên phải cẩn thận…” và thực tế thắng lợi của trận đầu đánh và thắng một đơn vị lính Mỹ ở Núi Thành đã chứng minh sự nhận định đó hoàn toàn xác đáng và sự đóng góp nhất định của đồng chí vào chiến công này.
Trong việc xây dựng vành đai diệt Mỹ ở Chu Lai, đồng chí đã nắm vững và vận dụng sáng tạo chiến lược đấu tranh “hai chân, ba mũi giáp công”.
Trong chiến dịch Đông Xuân 1965-1966, quân và dân Quảng Nam liên tục tấn công và nổi dậy khắp nơi trong tỉnh, trọng điểm là thị xã Tam Kỳ và Bắc Tam Kỳ: Tấn công tiêu diệt 2 đại đội cộng hòa ở đồn Núi Cấm (Quảng Phú), đánh một số mục tiêu trong nội thị như hội đồng Châu Thành, bãi xe cơ giới, pháo kích tỉnh đường Quảng Tín, đánh kho xăng 1,5 triệu lít, đánh diệt một đại đội bảo an cầu Bà Dụ…trong đó có phần đóng góp của đồng chí. Với chiến công đó, ngay sáng hôm sau, trên Đài Tiếng nói Việt Nam vang lên những lời khen ngợi “Hà Nội gọi, Tam Kỳ đáp lời, một trận quyết chiến trả thù cho Hà Nội kịp thời, làm nức lòng cả nước”.
Sau khi nắm tình hình một Trung đoàn Mỹ phản công vào Tây Bắc Tam Kỳ, Đông Tiên Phước về trú lại phía trước tỉnh đường Quảng Tín vào ngày 29 tháng 2 năm 1966, tranh thủ lúc chúng chủ quan nghĩ ngơi đồng chí liền nhanh chóng chỉ đạo cho đơn vị đại đội đặc công của thị xã (V18) gồm 16 đồng chí, chia làm 4 mũi, vượt sông, tập kích vào bộ chỉ huy địch, góp phần đánh tiêu hao sinh lực địch.
Hè - Thu năm 1966, sau khi tham gia trực tiếp chỉ đạo bộ đội huyện, du kích vùng giải Bắc Tam Kỳ liên tục chống đánh phá vùng giải phóng, gây chúng nhiều tổn thất và phát hiện địch rút quân về đóng trước tỉnh đường Quảng Tín, thị xã Tam Kỳ để nghỉ ngơi, đồng chí đã linh hoạt báo khẩn cấp đề nghị pháo binh Khu 5 tập và tập kích và đã gây ra cho chúng nhiều tổn thất. Sau chiến công này, đồng chí được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng Ba.
Tháng 4 năm 1967, đồng chí được chỉ định làm Bí thư Huyện ủy Nam Tam Kỳ thay cho đồng chí Hồ Truyền hi sinh. Tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam vào tháng 10 năm 1967, được bầu vào Tỉnh ủy, Thường vụ Tỉnh ủy. Trên cương vị Bí thư Thị ủy Tam Kỳ, để chuẩn bị cho chiến dịch Xuân Mậu Thân năm 1968, đồng chí liên đi chỉ đạo xây dựng cơ sở, vận động nhân dân hưởng ứng và trực tiếp chỉ huy lực lượng đánh vào tỉnh đường Quảng Tín.
Sau nhiều năm lăn lộn và có kinh nghiệm ở cơ sở, tháng 5 năm 1969, đồng chí được phân công phụ trách công tác dân vận và cùng vùng địch hậu của tỉnh. tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam vào tháng 11 năm 1969, được bầu làm Phó Bí thư Tỉnh ủy kiên chính trị viên tỉnh đội. Tháng 3 năm 1973, tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam, được bầu lại làm Phó Bí thư Tỉnh ủy kiêm Trưởng Ban an ninh tỉnh. Trong thời gian này, đồng chí đã có những đóng góp to lớn cùng với Tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo phong trào trong tỉnh liên tiếp giành thắng lợi, chỉ đạo kiên quyết việc trụ bám, giữ dân, giữ đất và sau đó là chủ trương chống tràn ngập lãnh thổ của ngụy quyền sau Hiệp định Pari.
Trong cuộc tổng tấn công và nổi dậy Xuân năm 1975, với nhiệm vụ được phân công là phụ trách cơ quan thường trực của Tỉnh ủy, trực tiếp chi viện cho tiền phương, đồng chí đã góp phần giải quyết tốt công tác ổn định vùng mới giải phóng và đặc biệt sau khi thị xã Tam Kỳ được giải phóng vào ngày 24 tháng 3 năm 1975, đóng góp tích cực trong việc phát động quần chúng ổn định tình hình trật tự ở thị xã.
Sau ngày giải phóng, tháng 10 năm 1975, đồng chí được phân công về làm Bí thư Huyện ủy Tam Kỳ và giữ cương vị này đến năm 1981. Trong những năm này, mặc dù nhiệm vụ mới đặt ra rất nặng nề, song đồng chí cùng cùng Đảng bộ huyện lãnh đạo nhân dân khắc phục hậu quả chiến tranh, phá dở bom mìn, phát triển sản xuất, xây dựng cuộc sống mới, đặc biệt là tổ chức cho hàng vạn người dân trong chiến tranh bị dồn vào thị xã trở vệ quê cũ làm ăn. Tổ chức xây dựng các công trình thủy lợi, nhất là huy động lực lượng xây dựng công trình đại thủy lợi Phú Ninh, vận động nhân dân vùng lòng hồ đi xây dựng vùng kinh tế mới, lãnh đạo phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, xây dựng huyện Tam Kỳ thành huyện mạnh về mọi mặt của tỉnh.
Năm 1982, mặc dù ở tuổi 60, tuổi cao sức yếu, lại từng lăn lộn gian khổ trên chiến trường miền Nam suốt 21 năm, nhưng trước sự điều động của Đảng về làm Trưởng đoàn chuyên gia tại tỉnh Battambong, Campchia. Đây là nhiệm vụ hoàn toàn mới, lại khó khăn phức tạp, song đồng chí đã hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng mà Nhà nước giao phó, được Nhà nước Campuchia tặng tặng thưởng Huân chương Ăng Co.
Năm 1989, đồng chí được Đảng cho nghỉ hưu theo chế độ. Trong những năm ngắn ngủi được về sum họp với gia đình, mặc dù sức khỏe ngày một giảm sút nhưng với nhiệt huyết cách mạng, đồng chí đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong công tác xây dựng Đảng, nhất là trong thời điểm tình hình Liên Xô và các nước Đông Âu lâm vào khủng hoảng và sụp đổ, đồng chí động viên cán bộ, đảng viên giữ vững lập trường, kiên định con đường mà Đảng và nhân dân đã chọn. Đồng chí Đỗ Thế Chấp từ trần ngày 19 tháng 01 năm 1992 tại thị xã Tam Kỳ.
Đồng chí Đỗ Thế Chấp là người cộng sản kiên cường, bất khuất. Trong suốt cuộc đời của mình, từ lúc tham gia cách mạng cho đến khi qua đời, đồng chí luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, với sự nghiệp cách mạng. Bất cứ công việc gì mà Đảng phân công, giao phó, nhất là những thời điểm khó khăn nhất, ác liệt nhất, tình hình đen tối nhất, lúc bí mật cũng như lúc công khai, đồng chí vẫn không ngại hy sinh gian khổ, hết mình vì công việc, bám sát phong trào quần chúng, dũng cảm, mưu trí, tiên phong trong các phong trào, nhiệm vụ được giao phó.
Đồng chí là người không chỉ dũng cảm, mưu trí mà còn bình tĩnh, xử lý tình huống một cách sáng suốt trong lúc khó khăn, ác liệt nhất của cách mạng. Đây là một đức tính, một phong cách rất quan trọng của người cán bộ đảng viên cộng sản. Tinh thần sáng suốt của Đỗ Thế Chấp còn có nhãn quan nhạy cảm, phán đoán tình hình để đưa ra những quyết định chính xác, góp phần tạo nên những thắng lợi cho cách mạng.
Đồng chí Đỗ Thế Chấp còn là người luôn có tinh thần lạc quan cách mạng, luôn vui vẻ, thanh thản, kể cả những lúc khó khăn nhất. Trong cuộc sống, đồng chí luôn chan hòa với anh em, đồng chí, đồng đội, có lon sữa, ống lương khô của cơ sở cho cũng đem chia xẻ với đồng chí, chiến sĩ trong lúc khó khăn...Chính vì vậy rất nhiều anh em, đồng chí không những quý mến đồng chí, mà còn mong muốn gặp gỡ để xin ý kiến góp ý về nhiệm vụ của mình, tìm đến đồng chí còn có niềm vui, niềm tin tưởng cách mạng.
Đồng chí, đồng đội từng công tác chiến đấu với đồng chí lúc bấy cho biết thêm: “Đồng chí là cán bộ có năng lực lãnh đạo phong trào, có kinh nghiệm vận động tổ chức quần chúng hoạt động cách mạng; là chiến sĩ cách mạng kiên cường, dũng cảm, mưu trí, bình tĩnh, thông minh, xử lý sáng suốt, kịp thời mọi tình huống. Nhờ bám sát cơ sở trong lòng địch, nắm rõ kẻ thù nên nhận định chính xác tình hình về ta và địch, nhất là biết được điểm yếu của địch, thế mạnh của ta và dựa vào dân, nên trong hàng chục năm hoạt động ngay trong lòng địch, nhất là cả thời kỳ bị địch khủng bố trắng, đồng chí vẫn hoạt động có hiệu quả, đặc biệt là kinh nghiệm xây dựng cơ sở không chỉ trong quần chúng lao động mà còn cả trong công thương, trong bộ máy tề ngụy, trong các Đảng phái phản động; đồng chí không chỉ có tài tổ chức trong đấu tranh chính trị, quân sự, binh vận mà cả hậu cần cho cách mạng. Những nơi nào khó khăn phức tạp nhất, được Đảng phân công thì đồng chí đều có mặt kịp thời.
Tác phong gần gũi, nói và làm, lăn lộn phong trào cùng với anh em cán bộ, chỗ nào khó khăn vướng mắc là đồng chí trực tiếp giải quyết, nhanh nhẹn nhẹn tháo vát, không nề hà, tình cảm với nhân dân, với đồng chí, đồng đội, nhất là chăm lo đội công tác, chăm lo cơ sở. Mỗi khi bộ đội, du kích sắp vào trận, đồng chí Đỗ Thế Chấp thường căn dặn các đồng chí chỉ huy: “Để anh em tử vong vô lý, cái tội trước hết ở trên đầu mình”. Đồng chí rất yêu thương nhân dân, đồng chí, đồng đội, nhường nhịn từng miếng cơm, manh áo, vì thế được nội bộ tin yêu, nhân dân cảm phục, đùm bọc, bảo vệ”.
Cuộc đời hoạt động của đồng chí, được Lữ Đình Huân viết trong bài thơ “Khóc bạn”, trong đó cô đọng nhất là: “…trọn đời Bắc chiến, Nam chinh. Lấy điều bất khuất tử sinh làm đầu”.
Ghi nhận những đóng góp xuất sắc vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đồng chí được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất; 03 Huân chương Giải phóng hạng Nhất; ngày 10 tháng 4 năm 2001, đồng chí được Chủ tịch nước ký quyết định truy tặng Anh hùng lực lượng lực vũ trang nhân dân.


