Đỗ Văn Lanh
Đồng chí Đỗ Văn Lanh sinh tháng 10/1948, quê xã Ninh Khánh, huyện Hoa Lư (nay là thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình). Tháng 8/1965, đồng chí nhập ngũ, sau đó được cử đi học lái máy bay MIG tại Trường Không quân Việt Nam 910 tại Tường Vân, Vân Nam, Trung Quốc (được sự nhất trí của chính phủ hai nước Việt Nam và Trung Quốc, năm 1965 trường sơ tán sang Trung Quốc). Năm 1968, sau khi tốt nghiệp về nước Đỗ Văn Lanh phục vụ tại Trung đoàn Không quân 923. Năm 1970, Đỗ Văn Lanh cùng một số phi công xuất sắc của Trung đoàn 923 được chọn chuyển loại lên máy bay MiG-21, sau đó phục vụ tại Trung đoàn Không quân 921.
Trong chiến tranh chống Mỹ, Đỗ Văn Lanh là một phi công xuất sắc, xuất kích chiến đấu nhiều lần trên cả MiG-17 và MiG-21, tuy luôn bay vị trí số 2, nhưng đã rất dũng cảm, mưu trí, quyết đoán, bắn rơi 04 máy bay Mỹ.
Sau nhiều lần bị không quân ta bắn rơi, Mỹ đã chú ý nghiên cứu, tìm các biện pháp đối phó với MiG. MiG nhỏ, khó quan sát lại cơ động nhanh nên rất khó đối phó. Do đó, một mặt địch trang bị thêm cho các loại máy bay hai loại tên lửa mới, là Side Winder và Sparron có thể bắn ở mọi tư thế, đồng thời tăng thêm tiêm kích yểm hộ cường kích (từ 4 đến 8 chiếc lên 12 đến 16 chiếc); mặt khác với MiG-17 và MiG-19, F-4 không tiến hành không chiến mà dùng các động tác thắng đứng. Còn đối với MiG-21 thì không chiến ở mặt bằng lại có lợi cho F4. Khi gặp MiG, bay đội hình hai chiếc ngang nhau, giãn cách 900m để có thể nhìn thấy phía sau của nhau, báo cho nhau biết khi có MiG. Nếu chỉ gặp một MiG thì chiếc nào nhìn thấy sẽ chủ động tiến công, chiếc kia bay theo và giữ đội hình bay hàng ngang để yểm hộ. Trong khi đuổi theo, nếu phát hiện một chiếc MiG khác ở vị trí nguy hiểm cho mình thì cả hai chiếc phải quay lại đối đầu với chiếc mới đến, không đuổi theo chiếc kia nữa. Trường hợp gặp nhiều MiG thì phải chia nhau ra để đối phó. Về tính năng kỹ thuật của MiG, so sánh với F4 và các loại tiêm kích khác của Mỹ. Chúng nhận thấy MiG-21 cơ động tốt hơn F-4 ở độ cao trung bình và độ cao. Nhưng ở độ cao thấp, MiG-21 lại bay chậm hơn F-4. Dó đó khi thấy MiG -21 đuổi ở phía sau, thì thủ đoạn của F4 là bổ nhào xuống thấp, tăng tốc độ rồi bay tiếp… với các loại máy bay tiêm kích và cường kích hiện đại, đội ngũ phi công được đào tạo tốt, nhiều phi công Mỹ có vài nghìn giờ bay, lại được nghiên cứu, huấn luyện cách đối phó MIG, đã gây nhiều khó khăn cho không quân ta, đòi hỏi bộ đội không quân phải thường xuyên rút kinh nghiệm, tìm cách đánh mới có hiệu quả.
Ngoài ra, địch còn tăng cường gây nhiễu đối không, nhiễu ra đa và dùng tên lửa Shrike phá hủy các đài ra đa dẫn đường, tăng tỷ lệ tiêm kích yểm hộ cường kích trong đội hình và yểm hộ theo khu vực. Chúng đánh phá hủy diệt các sân bay, chủ yếu là khu vực cất cánh, hạ cánh; tìm đánh các sân bay dã chiến, nơi ta sơ tán máy bay, chúng còn chủ động tổ chức các khu vực chặn MiG, các trận không chiến, cho lực lượng khống chế liên tục các sân bay, chờ đánh máy bay ta ngay khi vừa cất cánh và khi trở về hạ cánh. Trong các trận đánh địch luôn thay đổi đội hình, máy bay cường kích được che giấu (bay theo đội hình, tốc độ, độ cao gần như tiêm kích) nên ta rất khó phát hiện. Máy bay F-4 làm nhiệm vụ tiêm kích và cường kích của không quân và hải quân đều là loại đã được cải tiến, mang được cả tên lửa và súng máy 20mm.
Đảng ủy Bộ Tư lệnh Binh chủng Không quân kịp thời chỉ đạo các đơn vị quán triệt phương châm đánh chắc thắng, kết hợp giữa tiêu diệt địch, bảo vệ mục tiêu và giữ gìn bồi dưỡng lực lượng ta. Về cách đánh, thực hiện đánh nhỏ, đánh vừa là chủ yếu, trong mọi tình huống phải giành thế chủ động và hết sức phát huy yếu tố bất ngờ.
Thực hiện tốt chủ trương của trên, phi công Đỗ Văn Lanh cùng đồng đội chiến đấu dũng cảm, ngoan cường lập công xuất sắc. Anh đã tham gia chiến đấu 68 trận, 10 lần gặp địch, phóng 7 quả tên lửa tự dẫn bằng hồng ngoại, bắn rơi 04 máy bay F4 của Mỹ trong thời gian ngắn: 20/5/1972, 13/6/1972, 21/6/1972 và 9/9/1972. Với vị trí số 2 trong biên đội, Đỗ Văn Lanh không chỉ yểm hộ tích cực cho số 1 lập công mà đã nhiều lần bắn rơi máy bay địch và dũng cảm đưa máy bay bị hỏng nặng về hạ cánh an toàn.
Ngày 20/5/1972, biên đội 2 chiếc MiG-21 (Lương Thế Phúc – Đỗ Văn Lanh) cất cánh từ sân bay Nội Bài, đánh chặn 12 chiếc F4 trên vùng trời Suối Rút (Hòa Bình) đến Phủ Lý (Nam Hà). Số 1 bám được địch nhưng chúng cơ động đan chéo nên không bắn được. Đỗ Văn Lanh bay số 2 vừa yểm hộ cho số 1 tránh tên lửa địch, vừa chớp thời cơ công kích, phóng hai quả tên lửa hạ tại chỗ 1 chiếc F4.
Chiếc F-4D đã bị trúng quả tên lửa thứ nhất của Trung úy Đỗ Văn Lanh do Trung úy John D. Markle và Đại úy James W. William (mật danh Bowleg 02) thuộc phi đội tiêm kích chiến thuật 555, không đoàn 432 TFW điều khiển. Phi công John D. Markle nhảy dù được cứu thoát, còn phi công James W. William bị bắt. Đại úy William đến thời điểm bị bắt đã bay 228 phi vụ.
Ngày 24/5/1972, Trung đoàn 921 xuất kích 2 biên đội; biên đội thứ 1 bay lên hướng Tây – Bắc Thái Nguyên, gặp địch mỗi phi công phóng 2 quả tên lửa, nhưng do bắn vội, cả 4 quả tên lửa đều không trúng. Biên đội thứ hai bay về hướng Nam, gặp địch ở vùng trời Vụ Bản (Nam Hà). Số 1 vào công kích phóng hai quả tên lửa, không trúng. Số 2 yểm hộ và cơ dộng tránh được 2 tên lửa địch. Trên đường trở về máy bay của Đỗ Văn Lanh (số 2) hết dầu, tắt máy khi còn cách sân bay 45km. Sở Chỉ huy cho phép nhảy dù. Lợi dụng tốc độ còn lớn (760km/1 giờ và ở độ cao 5.500m) Đỗ Văn Lanh bình tình và khéo léo điều khiển cho máy bay hạ cánh an toàn.
9 giờ ngày 13/6/1972, Bộ Tư lệnh cho biên đội Lương Thế Phúc – Đỗ Văn Lanh cất cánh, lên đánh tốp 12 chiếc của không quân Mỹ đang bay đến gần Yên Châu và 1 tốp 4 chiếc đang bay từ Phú Thọ lên Tuyên Quang. Sau khi biên đội Phúc – Lanh cất cánh từ Đông sang Tây ở sân bay Nội Bài, Sở Chỉ huy Trung đoàn cho hướng bay 260 độ và lệnh kéo cao 3.000m, vứt thùng dầu phụ, tăng lực lên 5.000m. Ngay lúc đó số 1 Phúc phát hiện 4 chiếc F4 bay theo đội hình phân tốp kéo dài, ở bên trái 20 độ, cự ly 20km, trên độ cao 4.500m. Anh lập tức lệnh tăng lực kéo lên 6.000m, rồi lật máy bay, vòng trái bổ xuống phía đội hình F-4, ép độ nghênh để bám theo chiếc F-4 số 4, nhưng tốp F-4 cũng đã phát hiện có MiG bám theo, cả 2 chiếc vòng gấp ép vào trong bụng máy bay của số 1 Phúc, nên không công kích được. Số 1 Phúc quyết định thoát ly về hạ cánh.
Khi số 2 (Lanh) đang bám theo yểm hộ số 1, anh phát hiện 4 chiếc F-4 cắt vào dưới bụng số 1 và phóng ra 2 quả tên lửa màu đỏ da cam, nổ phía trước máy bay của số 1. Khi số 2 Lanh đang bám theo số 1, kéo cao bám theo 2 chiếc F-4, anh phát hiện thêm 4 chiếc ở hướng 30 độ bên phải, cự ly 7-8km đang bổ nhào về phía biên đội MIG. Số 2 Lanh quyết định bám theo chiếc bay bên trái gần nhất, đến cự ly 1.500m, tốc độ đang là 900km/h, số 2 ấn nút phóng tên lửa, anh thấy quả tên lửa R-3S nổ trên lưng chiếc F-4, anh nhanh chóng kéo thoát ly về bên phải, ngay lúc đó lại phát hiện 1 chiếc F-4 nữa ở cự ly thích hợp, với góc 20 -30 độ. Anh quyết định tiếp tục tấn công và bám theo, đặt điểm ngắm chính giữa chiếc F-4 này, đến cự ly 1.000m anh ấn nút phóng tiếp quả tên lửa thứ 2, anh nhìn thấy tên lửa nổ bên phải mục tiêu, do cự ly quá gần, anh quyết định thoát ly bên dưới bụng chiếc F-4, khi lướt qua anh nhìn thấy rõ cả cờ hiệu trên đuôi chiếc F-4. Sở Chỉ huy lệnh thoát ly hướng 60 độ, về hạ cánh, khi bay ngang Việt Trì số 2 phát hiện 4 chiếc bám phái sau ở cự ly 8-10km nhưng không hiểu sao đến gần Vĩnh Yên thì không thấy nữa, Lanh hạ cánh an toàn tại sân bay Nội Bài lúc 9 giờ 24 phút.
Ngày 21/6/1972, không quân Mỹ tiếp tục đánh phá các mục tiêu trên đường 1 Bắc đồng thời phối hợp với Hải quân đánh phá khu vực Tây Nam Hà Nội. Tại Trung đoàn không quân 921, biên đội 2 chiếc Lương Thế Phúc – Đỗ Văn Lanh trực chiến tại đầu đông sân bay Nội Bài. Lúc 13 giờ 41 phút, biên đội Phúc – Lanh cất cánh lấy độ cao bay về Thanh Sơn, đến nam Việt Trì theo hướng 280 độ, lên độ cao 5.000m. Đến 13 giờ 48 phút, khi đang bay hướng 180 độ, nhận được thông báo mục tiêu bên phải, phía trước 30 độ, cự ly 12km. Ngay lúc đó, số 1 Phúc phát hiện 4 chiếc F-4 bay đối đầu ở cự ly 10km. Đây là biên đội F-4E (mang mật danh Iceman) bay hộ tống cho các máy bay gây nhiễu. Số 1 Phúc vòng phải để tiếp cận, sau đó vòng trái gấp bám theo tiếp tục tấn công tốp F-4 bay nhiệm vụ hộ tống. Trong khi đó số 2 Lanh quay lại tấn công tốp thả nhiễu. Số 1 Phúc bám sát chiếc F-4 số 2 và đến cự ly 1.200m, điểm ngắm ổn định anh ấn nút phóng 1 quả tên lửa, nhưng quả tên lửa không ra. Anh quyết định tiếp tục bám theo chiếc F-4 số 1, ở cự ly 1.300m, anh ấn nút phóng quả tên lửa thứ 2, nhưng tên lửa vẫn không ra. Anh nhanh chóng thoát ly bên phải, rồi cắt vào để dùng súng (máy bay MiG-21 F96 trang bị pháo 23mm). Nhưng chiếc F-4 phát hiện có MiG bám theo đã tăng tốc lao xuống, bỏ chạy. Số 1 quay về sân bay Nội bài hạ cánh lúc 14 giờ 1 phút.
Số 2 Lanh sau khi nghe thông báo về mục tiêu, anh đã phát hiện 4 chiếc F-4 trên, đồng thời còn thấy phía dưới ở xa hơn còn 6 chiếc nữa. Anh quyết định bám theo đội hình 4 chiếc đi trước (đây chính là biên đội bay nhiệm vụ thả nhiễu), anh đặt điểm ngắm vào chiếc số 3, đến cự ly 2.000m ở độ cao 3.000m anh ấn nút phóng quả tên lửa bên trái, nhưng thấy mục tiêu vẫn bay thẳng, anh quyết định lật cò đưa điểm ngắm vào mục tiêu, đến cự ly 1.200m, bắn tiếp quả thứ 2, quả tên lửa thứ 2 vừa chìm xuống rồi lao đi thì anh thấy chiếc F-4 đã bốc cháy và quả tên lửa thứ 2 đã chui luôn vào chiếc F-4, khiến nó nổ tung, số 2 nhanh chóng kéo thoát ly bên trái, lên đến 5.000m, rồi bổ nhào xuống bay độ cao thấp về sân bay Nội Bài hạ cánh lúc 14h02 phút. Chiếc F-4E này do Đại úy George A. Rose và Trung úy nhất Peter A. Callaghan thuộc Phi đoàn 334 Không đoàn 4 điều khiển đang làm nhiệm vụ gây nhiễu cho đội hình tấn công. Máy bay bốc cháy, cả 2 phi công nhảy dù, bị bắt.
Ngày 9/9/1972, Không quân Mỹ sử dụng lực lượng lớn đánh phá Đường 1 Bắc, Đường số 3 và Thái Nguyên; hải quân sẽ tiếp tục đánh Hải Phòng. Bộ Tư lệnh Không quân hạ quyết tâm chiến đấu và giao nhiệm vụ cho 3 Trung đoàn cất cánh đánh địch trên cả 2 hướng Đông và Tây.
10 giờ 22 phút ngày 9/9/1972, Trung đoàn 921 cho Lương Thế Phúc – Đỗ Văn Lanh (MiG-21F96 số 13 và 08) được lênh cất cánh, Sở Chỉ huy cho đi hướng 230 độ. Đến 10 giờ 23 phút căn cứ triệu chứng gây nhiễu và ra đa C-53 bắt được tốp 8 chiếc đang vào Cửa Ông, Đình Lập, Đồng Mỏ, Bộ Tư lệnh thống nhất với nhận định của Trung đoàn và cho biên đội Phúc – Lanh vòng về hướng 360 độ. Lúc 10 giờ 26 phút, Sở Chỉ huy Không quân cho vứt thùng dầu phụ, tăng lực vào đánh tốp 12 chiếc đang bay ra. Lúc 10 giờ 28 phút biên đội bật tăng lực kéo lên độ cao 6.000m, bay hướng 100 độ để bám theo tốp đang bay ra. Ngay lúc đó Sở Chỉ huy thông báo mục tiêu bên trái 10 độ, cự ly 18km, quay sang phải anh lại phát hiện thêm 4 chiếc nữa đang đi hàng ngang ở cự ly 8-9km. Đây là biên đội 4 chiếc F4 có nhiệm vụ đánh chặn MiG-21 sắp hết dầu đang lập vòng kín hạ cánh.
Số 1 Phúc quyết định tấn công tốp gần nhất, anh bám theo chiếc bay cuối cùng, đặt điểm ngắm ổn định, đến cự ly 1.700 – 2.000m, anh ấn nút phóng quả tên lửa bên trái, bắn xong anh thấy chiếc F-4 cắm xuống, ngay lúc đó anh nghe thấy số 2 hô “Nó bắn 20mm, cơ động gấp”. Số 1 Phúc kéo gấp về bên trái và kéo cao thoát ly. Sở Chỉ huy Không quân cho Phúc thoát ly về hạ cánh ở sân bay kép. Trong lúc anh đang bay hướng 360 độ, đến Bắc Sơn số 1 báo dầu còn 450 lít, khi về đến sân bay Kép vào hạ cánh trực tiếp, lúc vừa thả càng và cánh tà thì nghe hô “thu chân, thu cánh tà, quay lại phản kích!”. Số 1 nhanh chóng thực hiện khẩu lệnh, đưa máy bay quay lại phản kích, ngay lúc đó anh thấy 2 quả tên lửa sượt qua lưng chiếc MiG của mình, anh vòng lại bám theo 2 chiếc F-4 phía sau, đúng lúc đó máy bay hết dầu, động cơ tắt máy trên không. Khi đó 2 chiếc F-4 phía sau lại phóng tên lửa về phía máy bay của anh, anh làm động tác cơ động gấp để tránh, sau đó định kiểm tra máy bay và làm động tác mở máy trên không nhưng do độ cao quá thấp, anh quyết định nhảy dù. Lương Thế Phúc tiếp đất an toàn tại huyện Lạng Giang, Bắc Giang. Chiếc F-4D số 1 tiếp cận và phóng 2 quả AIM-9 nhưng đều không trúng vì đã ở trong phạm vi phóng tối thiểu.
Số 2 Lanh, anh bám theo số 1 ở đội hình bên phải và nhìn rất rõ toàn cảnh số 1 bám theo tốp F-4, cho đến khi thấy máy bay của số 1 hơi rung nhẹ và tóe lửa ở dưới cánh trái, anh biết số 1 đã phóng tên lửa. Ngay lúc đó anh phát hiện 2 chiếc F-4 đang tiếp cận để dùng súng M61A1 20mm bắn vào số 1, anh hô thông báo cho số 1 biết và phóng ra 1 quả R-3S ngay trước mũi 2 chiếc F-4 để uy hiếp, quả tên lửa không trúng mục tiêu vì 2 chiếc F-4 đang cơ động gấp sang phải, sau đó 2 chiếc F-4 lại tiếp tục bám theo MiG số 1. Số 2 Lanh quyết định bám theo chiếc F-4 đang vòng đuổi số 1, đến cự ly 1.600m, điểm ngắm tốt, anh ấn nút phóng quả tên lửa thứ 2 anh nhìn thấy nó đi rất căng và chui luôn vào đuôi chiếc F-4. Chiếc F-4 bốc cháy và lao xuống đất. Số 2 nhanh chóng kéo thoát ly về bên trái lên độ cao 13.000m, ngay lúc đó anh nghe thấy số 1 Phúc nhắc chú ý không bay cao vào vùng kéo khói. Anh nhanh chóng hạ độ cao xuống 10.000m, rồi tiếp tục hạ độ cao về sân bay Gia Lâm. Khi về đến đỉnh sân bay Gia Lâm, nghe thấy hô “13 quay lại phản kích”, anh tăng cửa dầu, kéo máy bay lên quay lại quan sát, nhưng không thấy gì. Lúc này, tuy tốc độ khá lớn nhưng số 2 vẫn quyết tâm lao xuống hạ cánh, ngay thời điểm tiếp đất, thấy độ cao lớn, anh tắt máy ngay và thả dù giảm tốc nhưng vì tốc độ lớn nên dù bị đứt, máy bay lao ra ngoài, chạy xuống ruộng nước. Máy bay phải thay động cơ và một số thiết bị, sau đó nó vẫn có thể tham gia trực chiến.
Do thành tích chiến đấu xuất sắc, Đỗ Văn Lanh đã được tặng 4 huy hiệu Bác Hồ. Ngày 11/3/1973, Đỗ Văn Lanh là một trong bốn phi công trẻ lập công 1972 được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Đỗ Văn Lanh hy sinh trong chuyến bay huấn luyện ngày 9/7/1980 tại vùng trời Thái Nguyên.
Ngày 3/6/2002, bà Nguyễn Thị Lâm - Vợ Anh hùng, Liệt sĩ, Phi công Đỗ Văn Lanh trao tặng cho Bảo tàng Phòng không - Không quân 3 trong 4 chiếc Huy hiệu Bác Hồ của Anh hùng, liệt sĩ, phi công Đỗ Văn Lanh, chiến sĩ lái máy bay MiG-21 Trung đoàn Không quân 921 Bộ Tư lệnh Không quân/ Quân chủng Phòng không - Không quân đã được tặng vì bắn rơi máy bay Mỹ. Nhân kỷ niệm 60 năm ngày Thương binh liệt sĩ (27/7/1947 -27/7/2007), Bảo tàng Phòng không - Không quân đã trưng bày giới thiệu đến khách tham quan trong và ngoài nước.



