ĐÓA HOA KIÊU HÃNH GIỮA CHIẾN TRƯỜNG
TÁC PHẨM : ĐOÁ HOA KIÊU HÃNH GIỮA CHIẾN TRƯỜNG
Họ và tên : Nguyễn Huỳnh Khánh Phương
Lớp : 11/2
“ Phụ nữ Việt Nam trung trinh tiết hạnh,
Trang điểm cuộc đời muôn cánh hoa thơm.
Ra ngoài giúp nước, giúp non,
Về nhà tận tụy chồng con một lòng ”
Chiến tranh , mặc dù mang lại nhiều mất mát và hy sinh , nhưng trong bi kịch ấy vẫn toả sáng vẻ đẹp vĩnh cửu của những “ cái chết là nguồn sống" , trong nỗi đau ấy vẫn rực rỡ lên vẻ đẹp của những "cái chết ” nhưng “ không chết ” trong tâm hồn ngây thơ , trong sáng của những thiếu nữ đôi mươi . Dẫu rằng thanh xuân người con gái là quãng thời gian đẹp nhất , nhưng đối với những người con gái ấy , họ không ngại dâng hiến thanh xuân tuổi trẻ của mình để đối lấy hoà bình bình yên cho đất nước , dẫu có phải từ bỏ ước mơ hay nằm xuống dưới mưa bom bão đạn của quân thù , những bông hoa ấy vẫn toả sáng đầy rực rỡ , kiêu sa giữ chiến trường , đạn bom của quân địch cũng không thể làm lu mờ đi vẻ đẹp của họ . Nguyễn Thị Định , một trong những đoá hoa toả sáng rực rỡ nhất trên chiến trường kháng chiến chống giặc ngoại xâm lúc bấy giờ của mảnh đất Vĩnh Long , đã tạo nên những kì tích và thành công lớn lao trong hai trận đánh kháng chiến chống Pháp năm 1954 và kháng chiến chống Mỹ năm 1960 . Bà không chỉ là hiện thân của những người anh hùng quả cảm , mà còn là đại diện cho sức mạnh nội tại của phái đẹp trên chiến trường .
Nguyễn Thị Định, còn được gọi là Madame Nguyễn Thị Định, Ba Định (bí danh Bích Vân, Ba Tấn, Ba Nhất và Ba Hận), là nữ Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam đầu tiên và nữ chính trị gia người Việt Nam. Bà sinh ngày 15 tháng 3 năm 1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre (nay là xã Lương Hòa, tỉnh Vĩnh Long). Gia đình của bà là nông dân nhưng tham gia phong trào chống Pháp. Bà nguyên là Phó Tư lệnh Quân giải phóng Miền nam Việt Nam, Phó Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh , Bí thư Tỉnh uỷ Bến Tre, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Uỷ viên Trung ương Đảng khoá IV, V, VI. Đại biểu quốc hội khoá VI, VII, VIII, Huân chương Hồ Chí Minh. Cuộc đời bà gắn liền với hai dấu mốc thời gian diễn ra kháng chiến ác liệt nhất của dân tộc , song bằng tinh thần “ giặc đến nhà , đàn bà cũng đánh ” , bà đã cùng các đồng chí anh em của mình cầm lên ngọn súng của chính nghĩa , hướng ra chiến trường với hy vọng vẽ nên bầu trời trong xanh bình yên của Tổ Quốc .
Trong Giai đoạn Đấu tranh giành độc lập và Kháng chiến chống Pháp năm 1954 , Nguyễn Thị Định đã trải qua vô số gian truân vất vả , song ý chí của người con gái Vĩnh Long ấy vẫn cháy lên ngọn lửa của tình yêu quê hương , kháng chiến.
Năm 1936, được sự dìu dắt của người anh ruột là Nguyễn Văn Chẩn, bà tham gia phong trào Đông Dương đại hội như đi liên lạc, rải truyền đơn , vận động bà con chống sự áp bức, bóc lột cường hào ở địa phương , đứng lên đấu tranh đòi lại quyền độc lập.
Năm 1938, bà được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Từ đây , bà bắt đầu hoạt động cách mạng , không chỉ tham gia quá trình kêu gọi toàn dân , bà còn tham gia lực lượng thanh thiếu niên ra chiến trường chống giặc ngoại xâm . Tuy nhiên , trong quá trình tham gia kháng chiến , đã có một số chuyện không may xảy ra với gia đình bà và chính bà.
Năm 1940, chồng bà bị đối phương bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh ở đó. Nửa năm sau, bà cũng bị giặc bắt đày đi Bà Rá (Bình Phước) , giam bà ở đó để bà không thể hoạt động cách mạng và tham gia kháng chiến được nữa.
Năm 1943, do bị đau tim nặng, bà được trở về quê, chịu sự quản thúc của chính quyền địa phương.
Tuy rằng bản thân đang trong tình trạng không được khoẻ , tinh thần sắc thép cùng ý chí kiên cường của bà đã thôi thúc thiếu nữ thanh niên ấy tiếp tục bước đi trên con đường cứu nước bằng mọi giá.
Năm 1944, bà bắt liên lạc được với tổ chức cách mạng rồi tiếp tục hoạt động. Tháng Tám năm 1945, bà tham gia khởi nghĩa của nhân dân và giành chính quyền ở Bến Tre.
Tháng 3/1946, sau khi giành thắng lợi , bà tham gia đoàn cán bộ miền Nam ra Bắc gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và chính phủ để báo cáo tình hình kháng chiến ở Nam Bộ và xin chi viện vũ khí. Cùng tháng 11 năm đó, bà được đề cử làm Trưởng đoàn của đoàn thuyền chở vũ khí về Nam tiếp viện và tiếp tục công cuộc đấu tranh vì hoà bình dân tộc.
Năm 1947, bà được bầu vào Tỉnh ủy Bến Tre. Từ đó, bà cùng các cán bộ lãnh đạo ở địa phương tổ chức và lãnh đạo các cuộc kháng chiến của nhân dân Bến Tre.
Năm 1954, cuộc kháng chiến của nhân dân Bến Tre cùng với cả nước đã giành được thắng lợi.
Ngay cả khi bị bắt giam trong tù lao , ánh mắt và trái tim của Nguyễn Thị Định vẫn ánh lên tia hy vọng mãnh liệt , một niềm tin về sự thắng lợi, về tương lai tươi sáng của kháng chiến . Dù có bệnh tật , dù có đau lòng trong nỗi niềm mất đi người thân thương , vì tình yêu đất nước lớn hơn tất cả , bà vẫn chọn gạt đi tình cảm riêng tư mà nguyện hy sinh vì mảnh đất quê hương thân yêu . Có lẽ , chính vì sự kiên cường , bất khuất trong niềm tin của mình , người con gái ấy đã trở thành biểu tượng tiêu biểu cho người thiếu nữ lúc bấy giờ. Không còn là những người phụ nữ chân yếu tay mềm như xưa nữa , giờ đây , họ đã cầm súng lên , hướng về phía bầu trời xanh kia , nơi Tổ Quốc đang vẫy gọi .
Sau cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Pháp , đất nước ta lại phải đối mặt với một thách thức mới : Giai đoạn Kháng chiến chống quân đội Mỹ.
Những năm sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ (tháng 7 năm 1954), Bến Tre là một trọng điểm cần phải bình định của chính quyền Ngô Đình Diệm. Trong thời gian này, bà là một trong những cán bộ chủ chốt của Đảng bộ Bến Tre, đã cùng với các cán bộ lãnh đạo khác ra sức bảo vệ cách mạng, nhân dân.
Tháng 11/1959, bà làm Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, Sau đó nhận nhiệm vụ về khu ủy Trung Nam Bộ (Khu 8 cũ) dự hội nghị tiếp thu Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đầu năm 1960, bà một trong những người lãnh đạo Đồng khởi Bến Tre và là người chỉ đạo trực tiếp cuộc Đồng khởi đợt I (17.1.1960) ở ba điểm xã Định Thủy, Bình Khánh và Phước Hiệp (thuộc huyện Mỏ Cày Nam hiện nay) thắng lợi, mở đầu cho phong trào Đồng khởi trong tỉnh và toàn miền Nam sau này.
Sau cuộc Đồng khởi Bến Tre, Nguyễn Thị Định lên làm Bí thư tỉnh ủy và Chủ tịch Mặt trận Giải phóng tỉnh Bến Tre, lãnh đạo phong trào nổi dậy và xoá bỏ quân địch.
Năm 1964, trong Đại hội dân tộc giải phóng miền Nam lần thứ nhất, bà được bầu làm Ủy viên Chủ tịch đoàn Ủy ban Trung ương mặt trận. Năm 1965, người con gái ấy giữ chức Phó Tư lệnh quân Giải phóng miền Nam; tại đại hội Phụ nữ toàn miền Nam, bà làm Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phóng miền Nam và đến năm 1974, được phong quân hàm Thiếu tướng quân đội nhân dân Việt Nam.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (sau năm 1975), bà giữ nhiều chức vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước như: Ủy viên Trung ương Đảng khóa IV, V, VI; Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa VI,VII, VIII; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Từ 1987 đến 1992, bà giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước.
“Tôi không phải là một con chim, vì vậy tôi không cần một cái lồng để giữ tôi. Tôi là một con người tự do, có ý chí độc lập.” – (Charlotte Bronte) . Đúng vậy , Nguyễn Thị Định chính là một người như thế. Không chỉ có một tinh thần mạnh mẽ , sắc đá trước quân thù , bà còn là một người phụ nữ có ý chí , có niềm tin về tương lai của Tổ Quốc. Trên chiến trường, người ta thường chỉ liên tưởng đến sự chết chóc , sự lụi tàn của cây cỏ , sự mờ mịt của không gian. Ấy vậy , giữa chiến trường ấy vẫn mọc lên nhiều bông hoa tươi thắm. Phải , những đoá hoa kiêu hãnh vương mình , tự tin và bất khuất trước sự u ám của quân thù. Lý tưởng sống của những bông hoa ấy chính là bầu trời trong xanh bình yêu của nơi mình được sinh ra , được vung trồng và trưởng thành. Những người thiếu nữ , bề ngoài có thể dịu dàng , mềm mại , nhưng không đồng nghĩa với việc yếu đuối , chịu khuất phục. Nguyễn Thị Định , người con gái ấy , đến khi đã có tuổi , vẫn mong muốn cống hiến cho đất nước. Đoá hoa kiêu hãnh ấy mãi không tàn phai , vẫn nở rộ rực rỡ trên chiến trường khốc liệt.Chủ nghĩa anh hùng được thể hiện ở mức cao nhất, khi mọi người sẵn sàng hy sinh cho sự nghiệp của dân tộc. Cô gái trẻ ấy đã sẵn sàng đánh đổi thanh xuân của mình để bảo vệ con đường, bảo vệ Tổ Quốc . Tất cả điều này được thúc đẩy bởi tình yêu tổ quốc, như "ngọn lửa" cháy mãi bên trong trái tim mỗi người chiến sĩ.
Ngày 26 tháng 8/1992, bà từ trần tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hưởng thọ 72 tuổi, để lại bao niềm xót thương cho đồng bào và đồng hương của bà tại Vĩnh Long. Một người con gái đã cống hiến cả tuổi xuân của mình cho đất nước , giờ đây đã có thể mãn nguyện , hạnh phúc mà ngủ sâu trong giấc ngủ giữa hoà bình. Dù người không còn , nhưng hình bóng bà vẫn còn mãi , vẫn trường tồn trong lòng các chiến sĩ và người thân đất Vĩnh Long bạc ngàn ấy. Đoá hoa ấy không chết , mà chỉ đang lặng lẽ thu những cánh hoa vào trạng thái say giấc nồng. Một ngày nào đó , nó lại nở rộ lấp lánh trong trái tim của mỗi người chúng ta.
Chiến tranh qua đi để lại bao niềm nhớ thương những con người đã hết mình cống hiến cho đất nước , cho dân tộc , nhất là những người con gái đã hy sinh thầm lặng cuộc đời vốn bình yên của mình để đổi lấy hoà bình cho quê hương. Dẫu hình dáng người con gái ấy không còn trên đời nữa , nhưng trong trái tim mỗi người , họ lại hiện lên thật sâu sắc , đẹp đẽ. Người ta thường nói , muốn ngắt đi một đoá hồng phải trải qua biết bao khó khăn từ những chiếc gai của chúng , cũng như những người con gái Việt Nam kiên cường bất khuất , không chịu khuất phục trước quân thù , như bà Nguyễn Thị Định đây. Những đoá hồng ấy rồi đây vẫn sáng mãi , sáng mãi trên bầu trời rộng lớn ấy , mãi mãi khắc ghi trong tâm trí chúng ta.



