ĐÓA HOA TRINH SÁT NỞ GIỮA LÒNG ĐỊCH: NGƯỜI CON GÁI TUỔI HAI MƯƠI ANH HÙNG LIỆT SĨ HỒ THỊ HƯƠNG
Có những buổi chiều đứng bên khung cửa lớp học của Trường Tiểu học và THCS Ngô Quyền, nhìn những tia nắng vàng óng ả rải xuống khoảng sân trường rộn rã tiếng cười đùa của đàn em nhỏ, lòng tôi bỗng dâng lên một niềm xúc động khó tả. Gió chiều Đồng Nai thổi qua những tán lá xanh non, mang theo mùi đất đỏ bazan nồng đượm và hơi thở của một miền đất bình yên đang từng ngày thay da đổi thịt. Nhưng để có được sự tĩnh lặng dịu dàng ấy, mảnh đất miền Đông gian lao mà anh dũng đã phải đi qua một thời hoa lửa ngút trời — nơi tuổi thanh xuân của biết bao người con ưu tú đã hóa thân thành phù sa bồi đắp cho dáng hình Tổ quốc. Và trong dòng chảy thiêng liêng của ký ức, bóng hình người nữ chiến sĩ trinh sát Hồ Thị Hương luôn hiện về trong tâm trí tôi như một đóa phong lan ngát hương, kiên trinh và bất tử giữa mưa bom bão đạn.
Chị cất tiếng khóc chào đời vào ngày 20 tháng 7 năm 1954 tại xã Bình An, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định — vùng đất thượng võ giàu hào khí Tây Sơn. Năm 1963, khi mới lên 9 tuổi, giữa lúc chiến tranh lan rộng, chị theo gia đình phiêu bạt vào phương Nam, dừng chân dựng mái ấm đơn sơ tại mảnh đất Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. Tuổi thơ của chị là những chuỗi ngày cơ cực, một buổi cắp sách tới trường, một buổi phụ mẹ gánh hàng rong ruổi khắp chợ Long Khánh. Mẹ mất sớm vì lam lũ bệnh tật, gánh nặng gia đình đè nặng lên đôi vai gầy của người chị cả vừa chớm tuổi trăng tròn. Thế nhưng, chính nỗi đau riêng hòa cùng nỗi đau chung khi chứng kiến quân thù giày xéo xóm làng, lập ấp chiến lược, đàn áp dã man người dân vô tội nơi cửa ngõ Xuân Lộc, đã sớm nhen nhóm trong tâm hồn chị ngọn lửa căm thù giặc sục sôi. Lòng yêu nước trong người thiếu nữ nghèo ấy không bắt đầu từ những điều lớn lao, mà bắt nguồn từ nỗi xót xa trước những giọt nước mắt của người thân và đồng bào mình.
Được ánh sáng cách mạng soi rọi, người con gái tuổi mười tám mộng mơ đã quyết định dấn thân vào con đường chông gai nhất. Chị gia nhập Đội Trinh sát vũ trang thuộc Ban An ninh thị xã Long Khánh. Giữa một vùng đô thị được coi là 'cánh cửa thép' bảo vệ cửa ngõ Đông Bắc Sài Gòn — nơi quân địch giăng mắc trùng trùng đồn bốt, mật vụ và các sắc lính hung tàn, chị thoắt ẩn thoắt hiện dưới vỏ bọc một cô gái buôn bán mộc mạc, tần tảo giữa chợ đời. Sau nụ cười dịu hiền và gánh hàng rau quả bình dị là một trái tim thép, một đôi mắt trinh sát sắc sảo ghi nhớ từng quy luật tuần tra, từng sơ đồ bố phòng của các cơ quan đầu não ngụy quyền. Đã biết bao lần, bằng sự mưu trí phi thường và lòng quả cảm vô song, chị luồn sâu vào lòng địch, chuyển tin tức cơ mật ra vùng căn cứ, trực tiếp tổ chức những trận đánh táo bạo khiến quân thù khiếp vía kinh hồn.
Thế nhưng, khúc tráng ca bi hùng nhất trong cuộc đời chị đã ngân vang vào một ngày giáp Tết — ngày 29 tháng 01 năm 1975. Nhận nhiệm vụ trừng trị ổ chỉ huy ác ôn đang tụ tập tại quán ăn Song Nga trên đường phố sầm uất của thị xã Long Khánh, chị cùng đồng đội khéo léo vận chuyển khối thuốc nổ hai kilôgam lọt qua các vòng kiểm soát ngặt nghèo. Mọi chi tiết tác chiến đã được tính toán kỹ lưỡng, nhưng giữa lằn ranh nghiệt ngã của chiến tranh, sự cố kỹ thuật bất ngờ xảy ra khi kíp nổ phát hỏa trước thời gian định trước. Trong khoảnh khắc sinh tử ngàn cân treo sợi tóc, nếu buông tay ném khối bộc phá hoặc bỏ chạy thoát thân, sức công phá kinh hoàng ấy chắc chắn sẽ cướp đi sinh mạng của những người làm công và đồng bào vô tội xung quanh. Không một giây đắn đo cho sự an nguy của bản thân, người con gái ấy đã chọn cách nghiệt ngã mà cao cả nhất: ôm chặt khối thuốc nổ vào lồng ngực mình để che chắn cho nhân dân. Tiếng nổ xé toạc không gian Long Khánh! Chị ngã xuống khi vừa tròn 21 tuổi xuân — lứa tuổi đẹp nhất của đời người, với bao ước mơ và tình yêu còn dang dở. Đau đớn và xúc động biết bao khi ngày chị hy sinh chỉ cách ngày quê hương Long Khánh hoàn toàn giải phóng và non sông liền một dải vỏn vẹn đúng ba tháng trời.
Sự xả thân lẫm liệt của chị đã làm lay động lòng người và tạc vào lịch sử quê hương một tượng đài bất tử. Ghi nhận chiến công đặc biệt xuất sắc ấy, ngày 26 tháng 11 năm 1978, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã trân trọng ký quyết định truy tặng Liệt sĩ Hồ Thị Hương danh hiệu cao quý: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Chị còn được trao tặng Bằng Tổ quốc ghi công do chính Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký, cùng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất và Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nhưng có lẽ, phần thưởng lớn nhất, bền vững nhất chính là tên tuổi của chị đã hòa tan vào lòng đất mẹ Đồng Nai. Hôm nay, con đường mang tên Hồ Thị Hương thênh thang rợp bóng cây xanh chạy giữa lòng thành phố Long Khánh sầm uất; ngôi trường mang tên chị rộn rã tiếng cười của bao thế hệ học sinh; và di ảnh chị với ánh mắt sáng trong, nụ cười hiền hậu được thờ phụng trang nghiêm tại Đền thờ Liệt sĩ thành phố như một lời nhắc nhở thiêng liêng về giá trị của cuộc sống độc lập, hòa bình.
Cầm trên tay tờ công văn phát động Đề án 'Câu chuyện thời hoa lửa' của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, tôi cảm nhận sâu sắc rằng lịch sử không phải là những con số khô khan nằm im lìm trong trang sách, mà đang đập rộn ràng trong từng nhịp thở của hiện tại. Tuổi hai mươi của chị Hồ Thị Hương gửi lại nơi chiến hào đạn bom, để tuổi hai mươi của chúng tôi hôm nay được trọn vẹn sống dưới bầu trời hòa bình, được say sưa bên từng trang giáo án và nâng niu những mầm xanh tương lai của đất nước. Là một đoàn viên, một giáo viên trẻ đang công tác dưới mái trường mang tên vị anh hùng dân tộc Ngô Quyền, tôi tự dặn lòng phải sống sao cho xứng đáng với những hy sinh vô bờ bến ấy. Lời tri ân sâu nặng nhất gửi tới hương hồn người nữ anh hùng không nằm ở những mỹ từ, mà phải bằng sự tận tụy trong từng tiết dạy, bằng việc bồi đắp lòng yêu nước và đạo lý uống nước nhớ nguồn cho các em thơ, và bằng ngọn lửa nhiệt huyết của tuổi trẻ góp phần dựng xây quê hương Đồng Nai ngày càng giàu đẹp, văn minh. Chị đã hóa thân vào đất mẹ mùa xuân, nhưng ngọn lửa từ trái tim người con gái tuổi hai mươi ấy sẽ mãi mãi soi đường cho chúng tôi vững bước.



