Bài viết

ĐOÀN HỒNG (1917 - 2011) (1)

Đà Nẵng02/12/2025Đoàn xã Tam Xuân (Đoàn xã Tam Xuân)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đồng chí Đoàn Hồng, có tên khai sinh Đoàn Lang; trong quá trình hoạt động cách mạng có bí danh Hồng Sơn, Quang Tuyến, Ba Vì[1], sinh ngày 11 tháng 02 năm 1917, tại làng Phú Vinh, tổng An Hòa, phủ Tam Kỳ, nay thôn Bình An, xã Tam Hòa, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Cha là Đoàn Văn Úc, mẹ là Võ Thị Lý là những người nông dân chân chất.

Xuất thân từ gia đình nông dân nghèo, đông con, kinh tế gặp nhiều khó khăn nhưng được cha mẹ cho học sớm, lên 8 tuổi đi học chữ Hán, sau đó tiếp tục học chữ quốc ngữ tại trường làng Xuân Phú; 15 tuổi đậu bằng Yếu lược. Những năm tháng học tại trường làng Xuân Phú, Đoàn Hồng được thầy giáo Lê Thuyết tuyên truyền, giáo dục và tiếp cận nhiều sách báo tiến bộ. Từ đó, vun đắp cho mình một tinh thần yêu nước, căm ghét sự bất công và tìm đến với cách mạng.

Cuối năm 1936, Đoàn Hồng cùng với một số học sinh làng Xuân Phú đứng ra thành lập tổ Tương tế vận động quyên góp tiền giúp cho hội Cứu tế đỏ của làng hoạt động; chọn lựa một số thanh niên tiến bộ thành lập tổ thanh niên Dân chủ; lập các tổ chức biến tướng như Hội bóng đá, trợ tang, lợp nhà, tổ đọc sách báo... để tuyên truyền ảnh hưởng của Đảng. Việc lập tổ chức biến tướng không đơn giản, vì nhiều người sợ khi vào hội sẽ liên lụy đến gia đình, người thân. Nhưng với lòng nhiệt tình, cách giải thích đầy truyền cảm, lúc tại sân bóng, lúc thì lao động ngoài đồng, đồng chí đã tập hợp được rất đông thanh niên, nông dân vào những tổ chức trên.

Năm 1937, nhân cuộc bầu cử Viện dân biểu Trung Kỳ, Đoàn Hồng nhận trách nhiệm đi tuyên truyền, cổ động cho Nguyễn Qúy Hương - một ứng cử viên có tư tưởng tiến bộ ứng cử vào Viện dân biểu tại đơn vị bầu cử Tam Kỳ- Tiên Phước. Cuộc bầu cử thắng lợi, Nguyễn Quý Hương trúng cử, góp phần mở đường cho cuộc đấu tranh nghị trường, bảo vệ quyền lợi của nhân dân.

Thực hiện chủ trương vô sản hóa của Đảng, đồng chí Đoàn Hồng cùng với đồng chí Đào Thuần Thăng gia nhập đội quân công nhân lao động đắp đường xe lửa đoạn Quán Rường - Tam Kỳ. Tại đây, đồng chí đã vận động công nhân bãi công, đấu tranh đòi phát lương đúng kỳ và giảm giờ làm, buộc chủ thầu phải nhượng bộ. Thấy Đoàn Hồng có nhiều tiến bộ, Chi bộ giao thêm cho đồng chí nhiều nhiệm vụ mới cùng những tài liệu của Đảng Cộng sản để nghiên cứu, tìm hiểu. Với những kết quả hoạt động trên, đêm ngày 14 tháng 7 năm 1938, tại khu rừng Phú Vinh, Đoàn Hồng được các đồng chí Đào Thuần Thăng, Lê Thuyết tổ chức kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Sau khi phát triển thêm đảng viên mới đến tháng 9 năm 1938, Chi bộ Phú Vinh được thành lập, đồng chí Đoàn Hồng được cử vào cấp ủy phụ trách công tác tuyên truyền - tổ chức.

Với nhiệm vụ được giao, đồng chí ra sức tuyên truyền, xây dựng cơ sở cách mạng, nhất là công tác phát triển Đảng. Kết quả đã kết nạp các đồng chí Ngô Nga, Lê Tạc, Đặng Quang Diệu vào Đảng, vận động quần chúng vào các Hội biến tướng, tổ chức đưa hàng trăm thanh niên dự lễ truy điệu Phan Thanh tại bãi Bà Tình (nay Tam Quang).

Tháng 7 năm 1939, Phủ ủy Tam Kỳ tổ chức cuộc mitting tại Núi Chùa, Quảng Phú, đồng chí Đoàn Hồng đã huy động được 30 đảng viên và quần chúng làng Phú Vinh kéo về Quảng Phú để nghe đồng chí Lê Trọng Nghĩa diễn thuyết. Sau cuộc mitting này, địch tập trung truy bắt tràn lan, phong trào cách mạng của địa phương gặp nhiều khó khăn; giữa lúc ấy, để tránh sự theo dõi của kẻ thù và dễ bề hoạt động, đồng chí về dạy học ở trường làng.

Những năm 1940 - 1941, phong trào cách mạng tỉnh Quảng Nam gặp khó khăn, nhiều cán bộ của Xứ ủy, Tỉnh ủy phải vào phía Nam Tam Kỳ hoạt động. Đồng chí Đoàn Hồng được giao nhiệm vụ tổ chức, bố trí nuôi giấu các đồng chí Trương Kiểm (Trương Chí Cương), Phạm Thị Đợi (Cơ) và nhiều đồng chí khác. Trong thời gian này, đồng chí Đoàn Hồng đã tổ chức và bảo vệ nhiều cuộc mitting, diễn thuyết do các đồng chí Trương Kiểm, Phạm Thị Đợi tuyên truyền, giải thích về Chương trình hành động của Mặt trận Việt Minh. Ngoài ra, đồng chí còn vận động thành lập các Hội thanh niên cứu quốc, nông dân cứu quốc, phụ nữ cứu quốc… hoạt động của các hội đã lôi kéo được một số lý hương, làm giảm sự rình mò theo dõi của bọn mật thám.

Giữa lúc phong trào cách mạng tỉnh Quảng Nam đang phát triển sôi nổi, thì địch tiến hành đợt khủng bố lớn, kéo dài từ tháng 02 đến tháng 8 năm 1942. Nhiều cơ sở đảng bị vỡ, nhiều cán bộ, đảng viên bị bắt giam cầm. Tại Tam Kỳ, chúng bắt các đồng chí Đào Thuần Thăng, Lê Thuyết, sau đó đồng chí Đoàn Hồng cũng bị bắt và giam tại nhà lao Tam Kỳ.

Trong nhà lao, đồng chí Đoàn Hồng được đồng chí Phan Tốn giao nhiệm vụ nắm bắt tình hình bên ngoài, thông tin lại cho anh em trong tù để củng cố niềm tin. Từ những việc làm đó, đồng chí bị địch kết án 5 năm đưa về giam tại lao tỉnh và lao Hội An. Trong tù, đồng chí cùng với các đảng viên khác thành lập chi bộ nhà lao, tổ chức nhiều cuộc đấu tranh đòi những yêu sách cho cuộc sống hằng ngày và chống lại chế độ cai tù gian ác. Đặc biệt, trong thời gian bị giam cầm tại nhà lao Hội An, đồng chí cùng anh em tổ chức cuộc tuyệt thực kéo dài 10 ngày để đấu tranh đòi địch nới lỏng một số chính sách đối với tù nhân, cuộc đấu tranh bước đầu đã thu được kết quả. Từ đó chế độ nhà lao được cải thiện, đời sống của anh em tù chính trị được cải thiện.

Sau khi Nhật đảo chính Pháp (9/3/1945), đồng chí Đoàn Hồng được thả tự do. Về địa phương, mặc dù sức khỏe giảm sút, nhưng với tinh thần cách mạng tiến công, đồng chí đã nhanh chóng liên lạc với các đảng viên còn lại ở địa phương và số anh em vừa mới ra tù củng cố lại chi bộ. Tháng 7 năm 1945, Phủ ủy Tam Kỳ tổ chức cuộc họp mở rộng tại làng Thọ Khương (nay thuộc xã Tam Hiệp, huyện Núi Thành), đồng chí Đoàn Hồng, thay mặt cho chi bộ Hồng Sơn đi dự cuộc họp này và được bầu vào Phủ ủy.

Với cương vị mới, về lại địa phương đồng chí tập trung củng cố và phát triển các tổ chức Mặt trận Việt Minh, vận động số chánh, phó tổng, lý hương ủng hộ cách mạng, tổ chức rải truyền đơn, treo khẩu hiệu ở những nơi chưa có cơ sở như các làng nay thuộc xã Tam Tiến, xã Tam Thanh,... các chợ dọc đường quốc lộ 1 như Bà Bầu, Diêm Phổ. Tập hợp thanh niên khỏe mạnh luyện tập quân sự, thành lập các đội tự vệ chiến đấu. Khi có lệnh khởi nghĩa, đồng chí đã lãnh đạo dân binh giành chính quyền tại địa phương; sau đó tập hợp hơn một trăm quần chúng và đội viên tự vệ tại đình làng Phú Vinh kéo về giành chính quyền tại Phủ đường Tam Kỳ.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, chính quyền cách mạng lâm thời xã Phú Vinh, tổng An Hòa được thành lập, đồng chí Đoàn Hồng được phân công làm Ủy viên Tuyên truyền - Giáo dục. Đến tháng 11 năm 1945, đồng chí được Phủ ủy rút về làm Ủy trưởng điều tra phủ Tam Kỳ. Trong thời gian này, đồng chí đã có nhiều công lao trong việc trấn áp bọn phản động Quốc dân đảng, bọn lưu manh côn đồ chống phá chính quyền cách mạng vừa mới giành được tại Tam Kỳ.

Tháng 5 năm 1946, đồng chí được tăng cường về công tác tại huyện Tiên Phước và châu Trà My. Trong năm 1946, qua theo dõi, đồng chí phát hiện và đập tan một cơ sở in bạc tín phiếu giả của bọn Quốc dân đảng tại xã Tiên Châu, huyện Tiên Phước. Phát hiện và đập tan một địa điểm “chiến khu” của chúng tại vùng núi xã Dương Yên, bắt gần 300 tên Quốc dân đảng, chặn đứng được âm mưu của chúng. Đến tháng 5 năm 1949, đồng chí được điều về Ban Chính trị Công an tỉnh, phụ trách công tác tổ chức bộ phận công an di động Quảng Nam. Tháng 12 năm 1949, tại Đại hội của ngành Công an tỉnh, đồng chí được bầu làm Phó Bí thư chi bộ, phụ trách công tác Đảng.

Tháng 02 năm 1952, Tỉnh ủy chủ trương xây dựng căn cứ địa vùng tự do nối liền vùng tạm chiếm với miền núi thành hậu phương vững mạnh đủ sức đánh bại âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù. Với yêu cầu trên, đồng chí Đoàn Hồng được Công an tỉnh chọn cử đi làm nhiệm vụ mới; trực tiếp chỉ huy đoàn bảo vệ cán bộ, bộ đội và dân công tham gia các chiến dịch tại miền núi tỉnh Quảng Nam. Trong gần một năm công tác ở đây, đồng chí đã lãnh đạo bảo vệ an toàn các tuyến hành lang, đưa đón hàng ngàn cán bộ, bộ đội qua lại an toàn, bảo vệ các đoàn dân công vận chuyển được hàng trăm tấn vũ khí, lương thực cung cấp đầy đủ cho chiến trường Quảng Nam và Hạ Lào; tổ chức thu gom hàng chục tấn chiến lợi phẩm mang về cất giữ tại bờ sông Tân An, huyện Quế Sơn, nay thuộc huyện Hiệp Đức.

Tháng 10 năm 1953, đồng chí được cấp trên cử đi học lớp chỉnh Đảng tại tỉnh Bình Định, sau về tỉnh quyết định điều đi công tác bảo vệ cơ quan Ban Cán sự miền Tây tỉnh Quảng Nam. Trong thời gian công tác ở đây, đồng chí đã trực tiếp tham gia điều tra, bắt và diệt gọn một nhóm phản động sát hại cán bộ của ta tại huyện Bến Giằng.

Sau tháng 7 năm 1954, đồng chí được Tỉnh ủy chọn ở lại miền Nam hoạt động, bổ sung vào Ban Thường vụ Huyện ủy Thăng Bình, đứng điểm chỉ đạo các xã Thăng Lâm, Thăng Lộc. Đây là lúc địch đưa quân chiếm giữ lập đồn Việt An, Đồng Tranh, Tân An, Hiệp Đức, tổ chức bộ máy tề, điệp xã, thôn; tiến hành các vụ khủng bố “tố cộng, diệt cộng” trả thù những người tham gia kháng chiến, truy bắt cán bộ, đảng viên ta cài cắm lại trong các tổ chức của địch làm cho nhiều chi bộ bị vỡ, một số đảng viên phải bỏ quê đi làm ăn xa, một số phản bội Đảng. Trong khó khăn ấy, đồng chí đã dựa theo đơn vị hành chính tổng cũ để xây dựng, củng cố lại các chi bộ đảng.

Với cách làm sáng tạo, trong một thời gian ngắn, hầu hết các tổng của huyện Thăng Bình đều lập lại được chi bộ hợp pháp; bên cạnh đó đồng chí còn chọn một số quần chúng trung kiên xây dựng những cơ sở hoạt động nuôi dấu cán bộ, làm nòng cốt trong các phong trào đấu tranh chính trị.

Việc xây dựng lực lượng đang thuận lợi, thì do một cán bộ bị địch bắt, tra tấn không chịu nổi đã khai báo. Đêm 10 tháng 11 năm 1955, địch đưa hơn 100 lính về Thăng Lâm bao vây, lùng sục và bắt đồng chí Đoàn Hồng giải về khu Minh Huy, nay thuộc xã Bình Định Bắc, huyện Thăng Bình, tra tấn suốt hai ngày đêm nhưng không khai thác được gì. Ngày 13 tháng 11 năm 1955, lợi dụng sơ hở của bọn lính canh, đồng chí lấy cắp một khẩu súng ngắn của tên trưởng khu và trốn thoát về lại với cơ sở Thăng Lâm. Trong thời gian mất liên lạc với Huyện ủy, đồng chí vẫn kiên cường bám trụ hoạt động tại cơ sở. cho đến khi bắt lại được liên lạc vào cuối tháng 4 năm 1956. Một điều thú vị là khi về cơ quan, tất cả anh em vừa ngạc nhiên vừa mừng. Bởi vì, tưởng địch đã tra tấn và thủ tiêu đồng chí nên đã tổ chức lễ truy điệu cho đồng chí.

Sau khi liên lạc được với cấp trên đồng chí tiếp tục hoạt động bám dân, bám sát địa bàn, đào hầm bí mật làm nơi ẩn náu để lãnh đạo phong trào, vận động được hàng ngàn nhân dân ký vào bản kiến nghị gởi lên Ủy ban Liên hợp đình chiến, tố cáo tội ác của địch và đòi chúng thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, tổ chức đưa cơ sở vào trong Hội đồng xã của ngụy. Tổ chức một số cuộc mitting tại xã Bình Dương, thị trấn Hà Lam, Chợ Bà (Bình Giang) để tuyên truyền tố cáo tội ác của Mỹ - Diệm gây ra ở miền Nam.

Tháng 11 năm 1957, đồng chí Đoàn Hồng được Tỉnh ủy điều động đi tăng cường xây dựng căn cứ Phước Hiệp, Phước Sơn và làng Rô, huyện Bến Giằng. Với nhiệm vụ mới, đồng chí đã tích cực tuyên truyền, giáo dục, vận động đồng bào dân tộc đóng góp lương thực, thực phẩm, mở đường xây dựng căn cứ để chuẩn bị đón cán bộ từ miền Bắc vào và tổ chức lực lượng dân công vận chuyển vũ khí, lương thực chuẩn bị cho chiến trường.

Tháng 02 năm 1959, đồng chí được điều về lại Tam Kỳ và bổ sung vào Ban Thường vụ Huyện ủy. Cuối năm 1959 được Huyện ủy Tam Kỳ cử đi dự Đại hội Đảng bộ tỉnh và được bầu vào Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh. Sau khi trúng Tỉnh ủy viên, đồng chí được phân công nhiệm vụ mới, làm Trưởng đoàn cán bộ đi xây dựng cơ sở các vùng trắng tại nơi giáp ranh ba huyện Quế Sơn, Thăng Bình, Tiên Phước, lập nên vùng căn cứ lõm. Đồng thời tập trung xây dựng lại các cơ sở cách mạng tại các xã Sơn Bình (Quế Sơn), Tiên Lãnh (Tiên Phước), Thăng Lộc (Thăng Bình). Trong thời gian lãnh đạo xây dựng cơ sở ở đây, đồng chí đã tập trung xây dựng được đội tự vệ bí mật, có trang bị súng, trực tiếp chỉ huy tiêu diệt được nhiều tên ác ôn khét tiếng, làm cho bọn ngụy quân, ngụy quyền hoang mang dao động. Đồng thời tổ chức rút thanh niên thành lập các đội công tác xã và bổ sung cho lực lượng vũ trang của tỉnh. Ngoài ra, đồng chí Đoàn Hồng còn được Tỉnh ủy giao nhiệm vụ xây dựng bàn đạp để chuẩn bị cho việc tấn công đánh chiếm quận lỵ Hiệp Đức và đồn lính bảo an Phước Sơn (Quế Sơn) vào năm 1960, đây là cú đánh quân sự đầu tiên của chủ lực tỉnh Quảng Nam.

Sau khi hoàn thành việc tấn công quận lỵ Hiệp Đức và đồn Phước Sơn, tháng 3 năm 1961, Ban Thường vụ Khu ủy rút đồng chí về làm Trưởng Ban bảo vệ căn cứ địa Nước Là, Trà My. Đầu năm 1962, Khu ủy thành lập Ban An ninh Khu, đồng chí được điều sang làm ủy viên Ban An ninh. Tại đây đồng chí cùng với đồng chí Hoàng Tuấn Nhã (Lê Đình Thi), đồng chí Hà Lân (Ba Đen) lãnh đạo xây dựng lực lượng bảo vệ an toàn cơ quan lãnh đạo của Ban Thường vụ Khu ủy trong suốt thời kỳ chống Mỹ, cứu nước.

Tháng 3 năm 1964, đồng chí được Khu ủy và Ban An ninh Khu giao nhiệm vụ chỉ huy một Trung đội ra vĩ tuyến 17 đón và bảo vệ đoàn chiếu phim của Trung Quốc vào chiến trường Khu 5 phục vụ cho bộ đội và đồng bào vùng căn cứ. Với kinh nghiệm của người làm công tác an ninh, đồng chí đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Khi về đến nơi được đồng chí Võ Chí Công - Bí thư Khu ủy khen thưởng và giao nhiệm vụ trực tiếp lãnh đạo công tác bảo vệ, dẫn đường đoàn chiếu phim đến các chiến trường Quảng Nam, Quảng Ngãi, Gia Lai, ... và đến tận Khu 6 mới bàn giao và trở lại đơn vị.

Vừa hoàn thành nhiệm vụ về đến cơ quan, đồng chí được Quân khu giao ngay nhiệm vụ, chỉ huy một tiểu đội bảo vệ đoàn khách quân sự Cu Ba vào thăm và làm việc với Tỉnh đội Quảng Nam tại xã Thăng Phước (nay là xã Bình Lâm, huyện Hiệp Đức) trong suốt 15 ngày.

Đầu năm 1967, Khu ủy điều về làm Trưởng Ban An ninh tỉnh Quảng Nam, thay cho đồng chí Hoàng Tuấn Nhã ra miền Bắc chữa bệnh. Để chuẩn bị cho chiến dịch Xuân Mậu Thân năm 1968, đồng chí về làm Ủy viên Thường trực Hội đồng cung tiền phương. Sau năm 1968, tình hình cách mạng miền Nam gặp nhiều khó khăn, nhất là có khả năng thiếu hụt lương thực cung cấp cho bộ đội, nên đầu năm 1969, đồng chí về làm Ủy viên Ban lương thực, trực tiếp lãnh đạo công tác thu mua lương thực, thực phẩm tại các cửa khẩu huyện Nam Tam Kỳ (nay là huyện Núi Thành) và Bình Sơn (Quảng Ngãi). Đầu tháng 10 năm 1970, về làm Phó ban Giao bưu Khu ủy, thay cho đồng chí Kim Sơn đi ra Bắc chữa bệnh. Đến tháng 7 năm 1972, Ban Thường vụ Khu ủy điều sang làm Chủ tịch Hội đồng cung cấp tiền tuyến khu vực 2 (Nam Quảng Nam và Bắc Quảng Ngãi).

Giữa tháng 9 năm 1972, do yêu cầu công tác thu mua và vận chuyển lương thực từ vùng địch kiểm soát về căn cứ ngày càng cao, Khu ủy phân công đồng chí làm Phó Ban giao vận, kiêm Trưởng Ban chỉ huy công trường 2. Trực tiếp chỉ huy công tác mở đường miền núi, tổ chức tuyến xe đạp thồ từ huyện Bình Sơn về căn cứ Khu ủy Trà My. Đồng chí đã lãnh đạo 2 tiểu đoàn công binh và hàng trăm thanh niên xung phong, trong gần một năm gian khổ, vừa phóng tuyến, vừa thi công mở đường qua nhiều núi rừng hiểm trở, luôn bị máy bay địch đánh phá nhưng với quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Tuyến đường chiến lược chưa đầy một năm đã hoàn thành, vận chuyển được hàng trăm tấn lương thực, thực phẩm kịp thời lên căn cứ miền núi.

Tháng 01 năm 1973, Ban Thường vụ Khu ủy tiếp tục điều về làm Phó bí thư Đảng ủy Dân chính Đảng Khu 5, thường trực công tác Đảng đến tháng 3 năm 1975. Với nhiệm vụ mới, đồng chí cùng tập thể Đảng ủy chăm lo công tác xây dựng Đảng, chuẩn bị các điều kiện để tổ chức Đại hội Đảng bộ Dân chính Đảng Khu 5 vào tháng 9 năm 1973, xây dựng các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, công đoàn vững mạnh.

Chỉ sau vài ngày quê hương Tam Kỳ giải phóng (24/3/1975), giữa lúc đồng chí đang bận rộn công tác ở chiến trường thì Khu ủy điều về và chỉ định làm Trưởng đoàn công tác HT20, cùng với 30 cán bộ chính trị các ngành của Khu ủy tăng cường giúp các địa phương vừa mới giải phóng. Như vậy, gần 30 năm xa quê hương, nay đồng chí được trở về lại Nam Tam Kỳ. Khi về, đoàn HT20 chọn xã Tam Quang (nơi tình hình phức tạp nhất sau ngày giải phóng) làm địa điểm đóng cơ quan. Trong thời gian hơn 2 tháng, đồng chí Đoàn Hồng cùng với các đồng chí trong Ban Thường vụ Huyện ủy Nam Tam Kỳ bàn nhiều chủ trương, giải pháp để ổn định đời sống nhân dân, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự xã hội, lãnh đạo thành lập các ủy ban quân quản lâm thời, xây dựng các tổ chức hội đoàn thể quần chúng và xây dựng lực lượng dân quân du kích để bảo vệ chính quyền cách mạnh non trẻ. Tháng 5 năm 1975 đoàn công tác HT 20 giải thể, tại buổi hội nghị báo cáo kết quả đồng chí Đoàn Hồng được đồng chí Võ Chí Công - Bí thư Khu ủy khen thưởng và biểu dương trong toàn Đảng bộ Dân chính Đảng Khu bộ.

Tháng 6 năm 1975, đồng chí được Khu ủy cho đi tham quan và nghĩ dưỡng tại Liên Xô, sau đó về lại công tác tại cơ quan Đảng ủy 973, đến cuối năm 1975, cơ quan Khu ủy 5 giải thể, đồng chí Đoàn Hồng nghỉ hưu về lại địa phương.

Để phát huy kinh nghiệm của người đảng viên tiền bối của địa phương. Tháng 4 năm 1977, Ban Thường vụ Huyện ủy Tam Kỳ quyết định bổ sung đồng chí Đoàn Hồng vào Ban Chấp hành Đảng bộ xã Tam Hòa, phân công giữ chức vụ Bí thư Đảng ủy xã. Được hơn 2 năm làm Bí thư Đảng ủy, đồng chí Đoàn Hồng cùng với tập thể cấp ủy địa phương tập trung lãnh đạo khai hoang vỡ hóa, đắp đê ngăn mặn mở rộng và tăng gia sản xuất, chống đói, xây dựng trường học, cửa hàng, hợp tác xã.... làm cho bộ mặt xã Tam Hòa nghèo khó, cách sông, trở đò; một mảnh đất bị bom đạn giặc Mỹ tàn phá nặng nề dần dần thay da đổi thịt.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, đồng chí luôn luôn nhận ở đồng nghiệp và quần chúng những tình cảm trân trọng, quý mến, một chiến sĩ kiên cường, luôn thể hiện tinh thần và ý chí cách mạng. Trong quá trình hoạt động lúc bí mật, lúc công khai, ở bất cứ cương vị công tác nào đồng chí cũng không ngại khó, ngại khổ, luôn nêu cao phẩm chất tốt đẹp của người cộng sản, một chiến sĩ an ninh gan dạ, kiên trung, mưu trí. Trên mọi cương vị công tác được Đảng giao, bao giờ đồng chí cũng thể hiện là một cán bộ năng nổ, vững vàng trong mọi công việc, mọi tình huống; sâu sát, cụ thể và đầy trách nhiệm, liêm khiết, chí công vô tư. Đặc biệt, đồng chí rất gắn bó và có nhiều đóng góp trong công tác tổ chức bảo vệ cơ quan Khu ủy 5; lúc Khu 5 khó khăn về nguồn lương thực, thực phẩm đồng chí là người gánh vác trọng trách công tác hậu cần để bộ đội ta ăn no, đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Do tuổi cao sức yếu đồng chí từ trần vào hồi 03 giờ 30 phút ngày 12 tháng 12 năm 2011, hưởng thọ 95 tuổi.

Với những đóng góp cho sự nghiệp cách mạng, đồng chí được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huy hiệu 70, 60, 50, 40 tuổi Đảng, Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất; Huân chương chống Mỹ hạng Nhất; Huân chương Quyết thắng hạng Nhất; Huân chương Giải phóng hạng Ba...


[1] Ba Vì, nghĩa là: Vì độc lập tự do Tổ quốc; Vì hòa bình chủ nghĩa xã hội; Vì nghĩa vụ quốc tế cao cả. Tên Ba Vì khó gọi nên anh em đổi lại thành Ba Vi.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn