Bài viết

Đoàn phường Khánh Hậu (60)

Tây Ninh25/06/2026Đoàn phường Khánh Hậu (Đoàn phường Khánh Hậu)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chiều ngày 27/11/1971, chúng tôi lên tàu tại ga Sen Hồ, nửa đêm tàu tới ga Hàng Cỏ, dừng lại ít phút nhưng không được xuống. Không khí chiến tranh bao trùm khắp nhà ga. Từng đoàn tàu quân sự chở tăng, pháo phủ bạt kín mít nằm dọc đường ray và đều quay đầu về phía Nam. Ít phút sau tàu chuyển bánh lao phầm phập trong đêm, lính tráng ngủ mê mệt bên những chiếc ba lô mới tinh, căng phồng. Gần sáng tới Thanh Hóa, quan sát hai bên đường thấy nhà cửa đổ nát, thưa vắng và ngổn ngang xác các toa tàu cháy đen, quoằn quại. Tới Vinh thì tàu dừng hẳn, vì đâylà ga cuối cùng của thời đó. Cả Thành phố Vinh tan hoang không còn một mái nhà nguyên vẹn. Chúng tôi được nghỉ hai ngày tại Hưng Nguyên, Nghệ An, sau đó ra Bến Thủy lên sà lan, đi suốt đêm dọc bờ biển, dưới ánh đèn dù và tiếng ì ầm của máy bay địch. Sáng hôm sau vào tới cửa sông Gianh, lên bờ nghỉ trọ nhà dân ở xã Cự Nẫm, huyện Bố Trạch, Quảng Bình. Buổi chiều bắt đầu leo dốc vượt Trường Sơn.

Chặng hành quân đầu tiên của Trường Sơn vạn dặm là một thử thách không nhỏ đối với những người lính trẻ. Gió mùa đông bắc liên tục tràn về mang theo những trận mưa phùn dầm dề, làm nhão nhoét những cung đường đất đỏ vốn dày đặc dấu chân của hàng vạn người lính đã đi qua theo năm tháng. Vì thế mỗi bước chân là một thử thách, cứ nhấc được chân phải lên là chân trái lại lún sâu dưới bùn. Nhiều anh rút được chân lên thì quai dép đã tuột sạch, cười ra nước mắt.

Bãi khách đầu tiên của Trường Sơn có mật danh T5, nằm dưới một khu rừng kín đáo phía trên nhưng mật đất rất quang quẻ. Điều đặc biệt là gốc cây nào cũng nhẵn bóng dấu mắc võng của bao người đã từng nghỉ lại nơi đây. Đó đây trên thân cây rừng còn khắc ghi tên tuổi, quê quán của những người lính trẻ như nhắn gửi lại cho người đi sau biết mà nhận đồng hương. Đêm hôm đó, trên cánh võng mềm, tôi chùm chăn thật kín, bật đèn pin quả nhót, viết vội 2 lá thư, một cho gia đình, lá kia cho cô bạn hàng xóm tôi yêu, để sáng sau nhờ cán bộ khung huấn luyện đưa quân vào tới đây, quay ra Bắc, chuyển hộ tới gia đình .

Đường Trường Sơn dành cho người đi bộ phần lớn vắt vẻo trên những sườn núi cao, băng qua các đỉnh núi mây mù giăng phủ nên rất nhiều đèo dốc, cứ mở mắt là thấy dốc. Nhiều đoạn xuyên qua rừng già nguyên sinh, âm u mà hùng vĩ. Thỉnh thoảng nó lại nhập vào đường xe cơ giới rồi lại tách ra như những tĩnh mạch được nối với động mạch chủ, của một cơ thể trẻ trung căng đầy nhựa sống. Con đường kỳ diệu ấy như vừa lẩn tránh, vừa thách thức quân thù suốt mười mấy năm qua.

Dọc đường, chúng tôi được chứng kiến hàng vạn TNXP, chủ yếu là nữ, đội mưa bom bão đạn để mở đường và san lấp hố bom thông đường cho xe ra tiền tuyến. Gặp các cô dân công gùi nặng leo dốc, có anh còn ác khẩu trêu chọc “ các em gùi nặng thế thì mất lứa đẻ đấy”. Mỗi khi gặp từng tốp lính cũ được cử ra Bắc đào tạo, chúng tôi thường hỏi chiến trường còn bao xa thì đều nhận được câu trả lời giống nhau là “xắp tới rồi, các cậu vào nhanh đi kẻo chỉ còn nhặt ống bơ rỉ”. Trên con đường ra trận vạn dặm đó, chúng tôi còn gặp những bản nhỏ của đồng bào dân tộc Cơ Tu, Vân Kiều, Lào Thưng…vắt vẻo lưng chừng suốt dãy Trường Sơn.Nhưng chính họ, không chỉ cung cấp cho chúng tôi một nguồn thực phẩm quan trọng thông qua đổi trác rất tự nguyện, mà còn làm cho Trường Sơn thêm sức sống và sinh động khác thường.

Là huyết mạch quan trọng bậc nhất chi viện người và của cho chiến trường Miền Nam, Trường Sơn đã trở thành nơi đánh phá ác liệt của kẻ thù. Trên đường hành quân, chúng tôi phải băng qua không biết bao nhiêu trọng điểmác liệt, biết bao cán bộ, chiến sĩ của ta đã phải hy sinh giữa chừng. Tôi có thằng bạn cùng lớp 10B là Đoàn Hồng Hải, con nguyên Chủ tịch tỉnh Cao Bằng, nhập ngũ sau tôi ba tháng, nghe nói trúng bom B52 hy sinh trên con đường này. Trường Sơn thực sự là nơi thử trí trai, không như đèo Khế, đèo “cứt trâu” trên rừng thiêng Yên Thế mà chúng tôi đã từng thử sức. Bởi thế có người không chịu nổi gian khổ, ác liệt đã tự bắn vào chân, tay mình để không phải vào Nam chiến đấu. Có anh đào ngũ chui lủi một mình trong rừng sâu để tìm đường ra Bắc. Tuy vậy, đa số lính trẻ chúng tôi thì cho rằng, thà vào tới chiến trường đánh một trận hy sinh còn hơn phải quay ngược lại con đường đầy chông gai, gian khổ và mang về quê hương nỗi nhục của kẻ “B quay”.

Càng về cuối chặng hành quân, số người bị sốt rét càng tăng. Một anh sốt là phải hai anh cáng, vài ba anh khác phải mang vác ba lô, súng đạn cho đồng đội. Vậy mà riêng tôi tôimay mắn vẫn bình an suốt chặng đường. Vẫn là liên lạc của đại đội, tôithường xuyên phải đi lại xuôi, ngược suốt đội hình để chuyển thông tin. Ấy thế mà tối nào tôi cũng viết nhật ký ghi lại những gì diễn ra và suy nghĩ của mình dọc con đường huyền thoại ấy. Một trong những nguyên nhân khiến tôi “đề kháng” được với ốm đau bệnh tật là nhờ kinh nghiệm của anh Điển, người cùng quê, từ chiến trường phục viên ra trang bị cho. Theo đó, tôi mua khá nhiều Polyvitamin và chia đều ngày uống 10 viên dọc đường hành quân. Trước khi đi, tôi còn sang Trung Quốc mua hàng chục lọ nước hoa để đổi cho bà con dân tộc dọc Trường Sơn, lấy gạo nếp, bí đỏ…cải thiện.

Rồi chúng tôi lần lượt vượt qua các địa danh nổi tiếng ác liệt của Trường Sơn như đường 20 Quyết thắng, đèo Phu La Nhích, cua chữ A, dốc Cổng trời, dốc Nguyễn Chí Thanh, dốc bà Định, Đường 9, sông Bạc, sông Sê Băng Hiêng, Sê Ca Mán, A Tô Pơ… và cuối cùng là Ngã ba Đông Dương.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn