ĐOÀN THỊ NGHIỆP (1925 – 1972)
ĐOÀN THỊ NGHIỆP (1925 – 1972)
Đoàn Thị Nghiệp sinh năm 1925 tại làng Hội Cư, quận Cái Bè, tỉnh Mỹ
Tho (nay là xã Hội Cư, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang). Khi lập gia đình, bà về
quê chồng tại làng Bình Phú, quận Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho (nay là xã Bình Phú,
huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang). Chồng bà là ông Bùi Văn Thô sinh năm 1924,
nguyên là Trung tá Quân đội nhân dân Việt Nam. Bà có hai con là Bùi Văn
Thưởng và Bùi Văn Tấn đều hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước.
Năm 1946, bà tham gia cách mạng tại Bình Phú, làm công tác phụ nữ,
lãnh đạo và vận động chị em tham gia các phong trào cách mạng ở địa phương,
như đóng góp lương thực, thực phẩm thuốc men cho bộ đội, đi dân công phục
vụ chiến trường,...
Sau năm 1954, bà vẫn tiếp tục bám trụ ở địa bàn công tác cũ, lãnh đạo
nhân dân đấu tranh chính trị. Do có thành tích trong công tác, bà được bầu làm
Huyện uỷ viên huyện Cai Lậy. Trong những năm 1959 - 1960, mặc dù phong
trào cách mạng ở địa phương bị địch đánh phá ác liệt, nhưng bà vẫn kiên cường
bám chặt địa bàn cơ sở và cùng Huyện ủy ra sức củng cố xây dựng các chi bộ
Đảng, phát động phong trào quần chúng và tổ chức lực lượng vũ trang của
huyện. Sau đó, do yêu cầu của tổ chức, bà được điều sang An Giang công tác.
Năm 1967, bà được điều về Mỹ Tho và công tác tại Mặt trận vành đai diệt
Mỹ Bình Đức (huyện Châu Thành). Tại đây, bà đã lập kế hoạch bắt sống được
một sĩ quan Mỹ. Đồng thời, bà còn tham gia nhiều trận đánh vào căn cứ Đồng
Tâm do sư đoàn 9 Mỹ chiếm đóng. Năm 1968, Bà được phân công phụ trách
Mảng 4 Cai Lậy Bắc. Thực hiện nghiêm túc và sáng tạo chủ trương “Bám trụ
đánh địch” của Tỉnh đội, bà đã thành lập “Mặt trận chống phá bình định”, mà
lực lượng chủ yếu là các cơ quan của Tỉnh đội và du kích các xã trong khu vực,
nhằm kiên quyết bẻ gẫy các cuộc hành quân càn quét của địch, giữ vững địa bàn
đứng chân.
Ngày 22-4-1972, địch huy động hai tiểu đoàn đánh phá ác liệt vào cơ
quan Huyện đội Cai Lậy Bắc đóng ở xã Phú Nhuận (Cai Lậy). Lúc này, do các
đơn vị đều đi tác chiến ở các chiến trường trong tỉnh, nên tại cơ quan Tỉnh đội572
chỉ còn 5 chiến sĩ và 8 du kích xã. Với cương vị là Tỉnh đội phó, bà đã nhanh
chóng tổ chức và chỉ huy chiến đấu. Ỷ vào quân đông, địch liên tục mở nhiều
đợt đột kích, nhưng đều bị quân ta đánh bật ra. Tuy nhiên, do có sự chênh lệch
rất lớn về quân số và vũ khí, đến 12 giờ trưa cùng ngày, địch mới tiến vào vòng
ngoài khu căn cứ. Lúc bấy giờ, bà bị thương nặng và sa vào tay địch. Biết bà giữ
chức vụ quan trọng của Tỉnh đội Mỹ Tho, địch vừa mua chuộc, dụ dỗ, vừa tra
tấn dã man nhằm buộc bà phải khai báo, đầu hàng; nhưng bà đã không chịu
khuất phục và anh dũng hy sinh lúc 22 giờ ngày 22-4-1972, hưởng dương 47
tuổi.
Bà đã được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công giải phóng hạng Ba, 1
Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất. Ngày 6-11-1978, bà được Nhà
nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Năm 1994, bà
được truy tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam anh hùng vì có hai người con đã anh
dũng hy sinh trong chiến đấu. Tên bà được đặt tên trường trung học cơ sở của xã
Bình Phú, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang và trường tiểu học ở xã Mỹ Hội,
huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, tên đường tại thị xã Cai Lậy và thành phố Mỹ
Tho, tỉnh Tiền Giang. Cuộc đời chiến đấu oanh liệt của bà được khắc họa qua bộ
phim truyện “Rặng trâm bầu” do Hãng phim Phương Đông TP Hồ Chí Minh,
Phát hành phim quân đội, Đài Phát thanh - Truyền hình Tiền Giang hợp tác sản
xuất 2004 và vở kịch “Rặng trâm bầu” do Sân khấu Trịnh Kim Chi thực hiện
năm 2018. Phần mộ của bà đặt tại nghĩa trang liệt sĩ tỉnh Tiền Giang


