Đoàn xã Thu Lũm (217)
CHANG TRUNG LÒNG – người anh hùng của núi rừng Lai Châu
- Ông Chang Trung Lòng sinh ngày 3-3-1949, là người con dân tộc Hà Nhì, bản Ka Lăng, xã Thu Lũm, tỉnh Lai Châu, được sinh ra và lớn lên trong một gia đình khó khăn, giàu truyền thống yêu nước, có sáu người anh em, trong đó có 4 anh em đã tham gia phục vụ kháng chiến.
- Thân phụ: Chang Nhù Cà
- Thân mẫu: Phùng Lý Nu
- Nhập ngũ vào ngày 22-12-1967
- Ngày vào ĐSVN 20-4-1971, ngày chính thức 20-1-1972 (dự bị 9 tháng)
Những điều sơ lượt trong quân ngũ
- Từ tháng 1 đến tháng 2- 1968 huấn luyện tân binh tại Nà Tấu Điện Biên (sơ tán trong rừng) vì Mỹ ném bom đánh phá Miền Bắc chúng ta rất căng thẳng.
- Tháng 3-1968 qua cửa khẩu Tây Trang Điện Biên sang Lào bổ sung vào đơn vị trinh sát, tham dự chiến đấu ngay chiến dịch nặm bậc thuộc tỉnh Luông Pha Băng (Lào) tiếp đó tham gia chiến dịch dọc sông nặm u của tỉnh Luôn Pha Băng và các cứ điểm cao của địch đóng trên khu vực phía bắc của tỉnh Luôn Pha Băng.
- Đầu năm 1970 về nước đi học sỹ quan đặc công (trường đặc công 305 tại ngã ba Xuân Mai tỉnh Hà Tây) do thời chiến đào tạo gấp đến cuối tháng 3 – 1971 ra trường tiếp tục sang Lào bổ sung vào đơn vị đặc công thuộc mặt trận giải phóng Lào, riêng binh chủng có cơ động theo lệnh cấp trên ( tức bộ tư lệnh đặc công )
- Thấm nhuần sâu sắc tư tưởng chỉ đạo của binh chủng đặc công là bí mật tuyệt đối, anh dũng, táo bạo, bớt ngờ, chấp nhoáng, dùng lực lượng ít, đánh thắng lực lượng đông và rút nhanh.
Một thời hoa lửa binh chủng đặc công, với những trận đánh không thể quên.
- Sân bay Luông Pha Băng (Lào): 4 trận
- Sân bay quân sự ngụy thủ đô viêng chăng (Lào): 3 trận
- Cánh đồng chum (Lào) 5 trận
- Thị trấn vang viêng thuộc viêng chăn (Lào): 2 trận
- Đánh quân đổ bộ thủ đô viêng chăn (Lào): 3 trận
- Thị xã Quảng Trị (Việt Nam): 3 trận
- Thành phố Huế ( Miền Nam): 3 trận
- Bảo vệ Đảng, chính quyền cách mạng mới giải phóng ở thủ đô viêng chăng 2 tháng.
- Tháng 3- 1979 cơ động sang biên giới phía bắc đánh quân xâm lược bành chướng Trung Quốc tại thị xã Lạng Sơn và bình độ 400 của huyện Cao Lộc, trực tiếp tham chiến với quân xâm lược bằng 6 trận.
èè
- Trong thời binh chủng đặc công ông đã tham chiến 32 trận, chưa kể các trận nhỏ lẻ, phục kích bắt tù binh khác.
- Một thời chỉ huy đã qua ở cấp đại đội, cấp tiểu đoàn và cấp trung đoàn.
Giải phóng Miền Sau Nam, thống nhất đất nước.
- Năm 1980 học bổ túc chính trị, học viện chính trị Bắc Ninh.
- Năm 1981 về quân khu 2, chỉ huy một tiểu đoàn cắm chốt biên giới phía bắc của Lai Châu.
- Năm 1987 về BCHQS Mường Tè.
- Năm nghỉ hưu được phong quân hàm thượng tá.
Các huy chương cao quý:
- Huân chương chiến sỹ vẻ vang ( hạng nhất, hạng ba)
- Huân chương chiến công ( hạng nhất)
- Huy hiệu 50 năm tuổi đảng
Gương mẫu suốt đời: Dù ở cương vị nào, ông cũng luôn khiêm tốn, giản dị, tận tụy, sống nghĩa tình và tích cực đóng góp cho xã hội.
Ý nghĩa biểu tượng: Ông Chang Trung Lòng đại diện cho tinh thần quật cường, anh dũng của người chiến sĩ dân tộc thiểu số, biến hoàn cảnh khó khăn thành tinh thần yêu nước vô song, lan toản tinh thần yêu nước, lòng biết ơn sâu sắc và lối sống “Bộ Đội Cụ Hồ” trong thời chiến cũng như thời bình.


