Đoàn xã Thu Lũm (252)
Võ Như Hưng – “Bảy dũng sĩ Điện Ngọc”
Võ Như Hưng (tức Võ Như Trích) sinh ngày 5 tháng 5 năm 1929, dân tộc kinh quê ở xã Điện Nam, Huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, nhập ngũ ngày 5 tháng 5 năm 1952. Khi hy sinh đồng chislaf trung đội trưởng bộ đội đặc công tỉnh, Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam.
Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, 10 tuổi đã phải đi ở cho địa chủ, gia đình lại là cơ sở tốt của ta trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, được cách mạng giáo dục, Võ Như Hưng sớm giác ngộ, nhiều lần đã tình nguyện tòng quân, nhưng vì vóc người nhỏ bé nên không trúng tuyển. Mãi tới năm 1952 đồng chí mới được nhận vào bộ đội, làm chiến sĩ của trung đoàn 303, đã cùng đồng đôị chiến đấu trên các chiến trường Quảng Nam, Tây Nguyên… và đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Say ngàu hòa bình lập lại đồng chí taapj kết ra Bắc, đến năm 1960 đồng chí tình nguyện trở lại miền Nam chiến đấu. Võ Như Hưng là một trong những dũng sĩ xuất sắc trong 7 dũng sĩ Điện Ngọc.
Cuối năm 1960 trong trận đánh Bót 6(vùng Điện Bàn), trước giò xuất phát mặc dù vừa mới qua cơn sốt nặng, được cấp trên cho nghỉ, nhưng Võ Như Hưng kiên quyết xin đi bằng được. Giữa tình hình chiến đấu đang diễn biến khẩn trương, ddoonggf chí bijnmootj mảnh pháo phạt ngang làm gãy xương tay trái, nhưng vẫn nén đau cùng đồng đội anh dũng tiêu diệt địch cho đến lúc ta hoàn toàn làm chủ trận địa.
Năm 1961, trong trận đánh Nam Thành – một trung tâm huấn luyện biệt kích của địch ở Hòa Cam, cách sân bay Đà Nẵng chừng 500m, địch phân phòng rất cẩn mật, đồng chí được giao nhiệm vụ phụ trách mũi tấn công chủ yếu. Vừa bước vào chiến đấu nghe nhầm lệnh, đại bộ phận quân ta đều rút ra, do mũi của Võ Như Hưng do nhận lệnh đúng, vẫn xông thẳng vào trung tâm, diệt sở chỉ huy bọn cố vấn Mỹ. Giải quyết xong mục tiêu biết tin cả đơn vị đã lui quân, đồng chí bình tĩnh xử trí tổ chức cho anh em yểm hộ nhau rút từng bộ phận, dù ít người vẫn thu 12 súng và dẫn 9 tù binh về đơn vị.
Ngày 26 tháng 4 năm 1962, tiểu đội của Võ Như Hưng nhận nhiệm vụ thọc sâu vào lòng địch quấy phá, hỗ trợ cho đợt “phá ấp chiến lược, giải phóng thêm daan, thêm đất” do tỉnh phát động. Tiểu đội đi suốt từ vùng Ông Nổi, qua vùng Gò Đá, Quảng Lăng, Quảng Hậu, thôn 4 Điện Bàn, về đến Cẩm Sa thì bị 1 tiểu đoàn địch bao vây, và trận đánh nổi tiếng của “Bảy dũng sĩ Điện Ngọc” qua chiếc giếng cạn đã diễn ra ở đây. Các chiến sĩ thề với nhau “Quyết chiến đấu tiêu diệt nhiều địch, không chịu để rơi vào tay giặc”. Suốt một ngày trời, tiểu đoàn địch mở hàng chục đợt xung phong, nhưng lần nào cũng bị đánh bật ra. Cuộc chiến đấu không cân sức này càng về chiều càng gay go quyết liệt. Nhiefu lần địch liều chết tới gần, tung lựu đạn xuống lòng giếng, anh em liền chộp lấy ném trả lại. Tuy nhiên vẫn có quả nổ ngay trong giếng, làm một số chiến sĩ hy sinh và hầu hết các chiến sĩ đều đã bị thương.
Trời tối 4 chiến sĩ còn lại quyết mở đường máu, vượt vòng vây. Sau một đợt tập trung lực lượng, tổ chức xung phong mãnh liệt, bất ngờ, các đồng chí rút ra an toàn. Đi được một đoạn kiểm tra lại thiếu một chiến sĩ bị thương không theo kịp đồng đội, đồng chí qyết định quay lại tìm bằng được và dìu bạn vượt qua những chặn đường gian khổ, hiểm nguy, ngày ẩn nấp, đêm lại tiếp tục đi, đưa đồng đội vượt vành đai giặc và về đơn vị an toàn.
Trong trận chống càn ngày 20 tháng 12 năm 1963, khi 2 đại đội đã lọt vào trận địa ta. Bị đánh bất ngờ địch hoảng hốt, tán loạn. Quân ta lập tức xung phong truy kích đến cùng. Trên đường đuổi giặc Võ Như Hưng bị thương nặng ở bụng, dạn xuyên từ phải qua trái làm đứ nhiều khúc ruột. Mặc dù đưa đi bệnh viện kịp thời và đã được tận tình cứu chữa song vết thương quá nặng không thể nào cứu được. Trên giường bệnh tới giây phút cuối cùng, đồng chí vẫn kiên trì chịu đựng không hề rên la, luôn luôn lạc quan và tin tưởng vào thắng lợi cách mạng.
Võ Như Hưng là một cán bộ gương mẫu trong chiến đấu cũng như trong học tập và công tác. Sống thẳng thắn, trung thực, thật thà, hết lòng thương yêu đồng đội và được mọi người nể phục, tin yêu.
Ngày 5 tháng 5 năm 1965, đồng chí Võ Như Hưng được ủy ban trung ương mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng huân chương Quân công giải phóng hạng nhì và danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


