Bài viết

Đốc Binh Kiều ( ? - 1866 )

Đồng Tháp19/05/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Rất tiếc đèn nay, chúng ta chưa biết họ và quê quán của Độc bình Kiều. Dân gian thường gọi ông là Lê Công Kiều, Trần Phú Kiều hoặc Nguyễn Tân Kiểu, nhưng phổ biến nhất là quan Lồn Thượng.

Tương truyền, ông gốc người miền Trung vào Nam sinh sống ở huyện Kiền Đăng, tỉnh Định Tường. Khi thực dân Pháp đánh chiếm thành Gia Định, ông về Gia Định dầu quân chống giặc. Nhà có võ nghệ và biết tổ chức nên ông được giao quyền chỉ huy một đội dân dũng. Khi đại đồn Kỳ Hoà thất thủ, ông không theo quân triều đình rút về Biên Hoà mà đưa đội nghĩa dùng của mình về đông ở Sắm Giang. Long Hưng thuộc huyện Kiên Đăng với ý định lập căn cứ chiến đâu lâu dài. Đến khi Trương Định lập căn cừ Tân Hoà (Gò Công). Thiên hộ Dương lập căn cử Bình Cách, Mỹ Quý (Ba Giồng, huyện Kiên Đăng), ông đem quân về Ba Giồng hợp tác với Thiên hộ Dương.Ông được phong chức độc bình và trở thành một trợ thủ đắc lực của Thiên hộ. Trong suốt thời kỳ chiên đầu ở Ba Giồng, chẳng những ông lập được nhiều chiến công mà còn hết lòng trong việc tổ chức và tuyển mộ, huy động bình lương, nên ông được thăng cấp. Khi bị Pháp đánh bật ra khỏi Bình Cách, nghĩa quân rút về Xoài Tư, cửa ngô vô Đồng Tháp Mười. Thiên họ Dương phân công Thủ khoa Huân đi các tỉnh miền Tây vận động tiền bạc để mua vũ khí, Thiên hộ Dương với 100 quân, hành quân lưu động, hô hào kích thích lòng yêu nước, căm thù giác, chiêu mộ nghĩa quân, còn ông giữ trọng trách vô Đồng Tháp Mười tìm nơi lập cân cửchuẩn bị cho cuộc chiến đầu lâu dài.

Tháng 6 năm Giáp Tý (1864), Thủ khoa Huân bị giặc bắt ở An Giang, đền tháng sau Trương Định hy sinh ở Gò Công, nghĩa quân rơi vào tình trạng cực kỳ khó khăn. Thiên hộ Dương quyết định rút vô Đồng Tháp Mười và đặt tổng hành dinh tại Gò Tháp. Đốc Binh Kiều được giao nhiệm vụ xây dựng căn cứ. Ông huy động dân bình, nghĩa quân đảo hào đắp luỹ, xây dựng đại đồn Tháp Mười suốt mấy tháng liến. Chung quanh căn cứ là hào sâu dươi cấm chông tre, kể bên là luỹ cao, trên trồng tre gai. đặt lỗ châu mai, có chòi canh trên ngọn cây để canh gác. Trong đồn có nhà ở, nhà ăn, giềng nước, nhà kho, kho vũ khí, nhà tham mưu, nơi làm việc cơ mật... Tất cả đều được bố trí canh phòng nghiêm ngặt. Để bảo vệ đại đồn, ở vòng ngoài có đồn Tả, đồn Hữu, đồn Tiên án ngữ các đường mòn.

Sau đó, theo phân công của Thiên hộ, Đốc bình Kiểu chỉ huy đồn Tả, chịu trách nhiệm ngân mật Xáng Xẻo, Rạch Ruộng, để phòng quân Pháp từ Cai Lậy, Cái Bè tiền võ. Ông chủ động kéo quân ra đánh Cai Lậy và nhiều nơi khác, không chờ giặc tới đánh mới chồng đã, Ông vận dụng chiến thuật du kích kết hợp với kinh nghiệm dân gian sáng tạo các cách đánh độc đáo, như đốt đồng, dùng ong, dùng trâu, hẩm chông... làm cho quân Pháp và tay sai võ cùng khiếp sợ. Cả tuyền dài từ Cái Bè đến Cai Lậy, ông luôn giữ thể chủ động, quân Pháp câm tức, nhưng không sao tiêu diệt được ông.

Trong cuộc tấn công Tháp Mười vào tháng 4 năm 1866, quân Pháp đã dùng một lực lượng lớn để áp đảo mặt này, quyết hạ cho được đồn Tả để tiền vào Tháp Mười. Quân Pháp do tay sai khét tiếng Trần Bá Lộc chỉ huy tân công hung hàn. Độc bình Kiểu điều động nghĩa quân chồng trả quyết đấy lui nhiều đợt tấn công, đến chiều bọn chúng phải rút lui. Ông lên đài quan sát theo dõi, chẳng may ông bị thương. Ông được đưa về gò Giống Dung điều trị. Mây ngày sau, được tin đại đồn thất thủ ông uất lên mà chết.

Để ghi nhớ công lao chiến đầu chồng giặc giữ nước gian khổ của ông, nhân dân xây cất đến thờ tưởng niệm ông chung với Thiên hộ Võ Duy Dương tại Gò Tháp. Hiện nay, trong dân gian còn lưu truyền bài thơ ca ngợi ông:

Vì nước quên mình bởi chủ trung,

Thương dân chỉ sá chồn sinh bùn

Mày năm Đồng Tháp danh vang đội,

Cọp rồng ngoài trường, cáo hãi hùng.

Hai thước im lìm nơi thạch động,

Đồng bào tưởng nhớ đừng thở chung.

Nỗi lòng nghĩ đến nhiều năm trước.

Hương lừa đều không cánh lạnh lùng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn