Đốc Binh Kiều - "Quan Lớn Thượng" vùng Đồng Tháp Mười
Gắn liền với căn cứ Gò Tháp huyền thoại, **Đốc Binh Kiều** là vị võ tướng mưu lược, linh hồn của những trận đánh khiến thực dân Pháp khiếp đảm. Với tài cầm quân xuất sắc, ông đã biến vùng đầm lầy thành “mê cung” du kích bằng những chiến thuật sáng tạo như dùng ong vò vẽ, hầm chông hay huấn luyện đội quân trâu điên. Đằng sau vẻ uy nghiêm của một vị chủ soái là tấm lòng yêu dân thiết tha qua lời răn dạy: *“Một hạt gạo của dân cũng phải biết quý”*. Sự hy sinh anh dũng vào năm 1866 đã biến ông thành biểu tượng bất khuất, một vị thần “sinh vi tướng, tử vi thần” sống mãi trong lòng dân tộc.

Đốc Binh Kiều - "Quan Lớn Thượng" vùng Đồng Tháp Mười
Gắn liền với căn cứ Đồng Tháp Mười huyền thoại, Đốc Binh Kiều là linh hồn của những trận đánh du kích khiến giặc Pháp khiếp đảm. Đằng sau danh xưng "Quan Lớn Thượng" là một ý chí kiên trung, sự mưu lược và tấm lòng hết lòng vì dân, vì nước,.
Gốc tích và chí hướng kháng Pháp Cho đến nay, họ tên thật và quê quán chính xác của ông vẫn còn nhiều giả thuyết, có người gọi là Lê Công Kiều, Trần Phú Kiều hay phổ biến nhất là Nguyễn Tấn Kiều,. Tương truyền, ông là người miền Trung vào Nam sinh sống tại huyện Kiến Đăng, tỉnh Định Tường.
Khi thực dân Pháp đánh chiếm thành Gia Định, ông đã sớm có mặt để đầu quân chống giặc. Nhờ có võ nghệ cao cường và khả năng tổ chức, ông được giao chỉ huy một đội dân dũng. Sau khi đại đồn Kỳ Hòa thất thủ, thay vì rút lui theo quân triều đình, ông quyết tâm đưa đội nghĩa dũng của mình về vùng Sầm Giang, Long Hưng để lập căn cứ chiến đấu lâu dài, sau đó hợp tác cùng Thiên Hộ Dương tại Ba Giồng.
"Vào Đồng Tháp Mười, xây dựng căn cứ bất khả xâm phạm" Với chức danh Đốc binh và là tham mưu đắc lực cho Thiên Hộ Dương, ông được tin tưởng giao trọng trách vào Đồng Tháp Mười tìm nơi lập căn cứ. Giữa vùng đầm lầy sình bùn, lau sậy bạt ngàn, ông đã huy động dân binh đào hào, đắp lũy, xây dựng nên đại đồn Tháp Mười kiên cố với hệ thống chông tre, lũy tre gai và các trạm quan sát nghiêm ngặt,.
Đốc Binh Kiều không chỉ giỏi phòng thủ mà còn chủ động tấn công. Ông vận dụng linh hoạt chiến thuật du kích, biến vùng đầm lầy thành "mê cung" đầy hiểm nguy cho quân Pháp,. Những cách đánh sáng tạo của ông như đốt đồng, dùng ong vò vẽ, hầm chông, hay đặc biệt là huấn luyện đàn trâu hàng trăm con xung phong càn quét quân giặc đã trở thành nỗi khiếp sợ của kẻ thù,.
"Một hạt gạo của dân cũng phải biết quý" Cũng như người lính Bộ đội Cụ Hồ, Đốc Binh Kiều luôn giữ kỷ luật nghiêm minh và hết lòng yêu thương nhân dân. Ông thường căn dặn nghĩa quân: "Một hạt gạo của dân cũng phải biết quý. Không được làm điều gì khiến dân mất lòng tin". Chính vì sự gần gũi và liêm chính ấy, nghĩa quân của ông luôn được nhân dân đùm bọc, giúp đỡ từ việc đưa tin đến cung cấp lương thực. Người dân vùng Đồng Tháp Mười tôn sùng ông là "Quan Lớn Thượng" hay "Tổng đốc", thờ phụng ông như một vị thần theo quan niệm "sinh vi tướng, tử vi thần".
Khoảnh khắc hy sinh và sự bất tử trong lòng dân Tháng 4 năm 1866, quân Pháp dùng lực lượng lớn dưới sự chỉ huy của Trần Bá Lộc tấn công hung hãn vào đồn Tả do ông trấn giữ. Đốc Binh Kiều đã trực tiếp chỉ huy nghĩa quân chống trả quyết liệt, đẩy lùi nhiều đợt tiến công,.
Trong lúc lên đài quan sát để theo dõi sự rút lui của giặc, ông không may bị thương nặng,. Sau khi nghe tin đại đồn thất thủ, vì quá uất ức, ông đã hy sinh,. Có tài liệu cho rằng ông mất tại gò Giồng Dung hoặc được đưa về quê nhà điều trị rồi mất ở đó,.
Để tưởng nhớ công lao to lớn của ông, nhân dân đã xây dựng đền thờ tại Khu di tích Gò Tháp (Đồng Tháp),. Hàng năm, các lễ hội vào tháng 3 và tháng 11 âm lịch thu hút đông đảo khách thập phương đến chiêm bái, minh chứng cho sức sống mãnh liệt của hình tượng người anh hùng trong lòng dân tộc,,.
Ngôi mộ của ông tại Gò Tháp, gắn liền với những truyền thuyết ly kỳ như con trâu mắc sừng tìm ra mộ thật, vẫn luôn là biểu tượng của tinh thần yêu nước và ý chí bất khuất của người dân Nam Bộ,.



