Đôi dép cao su mòn đến đế
Tôi nghe câu chuyện này từ một cựu chiến binh quê Quỳnh Lưu, Nghệ An. Khi nhắc đến những năm tháng Trường Sơn, ông không giữ nhiều kỷ vật. Nhưng có một thứ ông nhớ rất rõ: đôi dép cao su đã mòn đến tận đế. Ông kể: “Đời lính hồi đó, đôi dép quý lắm. Nó theo mình qua đường rừng, suối đá, bùn đất và cả những trận bom.”

Tôi nghe câu chuyện này từ một cựu chiến binh quê Quỳnh Lưu, Nghệ An. Khi nhắc đến những năm tháng Trường Sơn, ông không giữ nhiều kỷ vật. Nhưng có một thứ ông nhớ rất rõ: đôi dép cao su đã mòn đến tận đế.
Ông kể:
“Đời lính hồi đó, đôi dép quý lắm. Nó theo mình qua đường rừng, suối đá, bùn đất và cả những trận bom.”
Đôi dép ấy được cắt từ lốp xe cũ, quai bằng cao su đen. Ngày nhận quân, nó còn dày và cứng. Đi vài tháng, quai mềm dần, mặt dép in hằn theo bàn chân.
Rồi những chặng hành quân nối tiếp nhau.
Qua dốc đá.
Qua suối lũ.
Qua những đoạn đường bom cày nham nhở.
Mỗi bước đi, đôi dép lại mòn thêm một chút.
Anh Hòa quê Diễn Châu thường nhìn xuống chân bạn rồi trêu:
“Dép ông sắp nhìn thấy đất rồi.”
Dinh cười:
“Còn đi được là còn dùng.”
Có lần hành quân trong mưa, quai dép bị tuột.
Cả tổ dừng lại dưới một tán cây.
Hòa lấy con dao nhỏ, cắt một đoạn dây cao su rồi ngồi sửa dép cho bạn.
Dinh nói:
“Để tôi làm.”
Hòa lắc đầu:
“Ông sửa kiểu gì lại đứt tiếp.”
Mọi người xung quanh cười.
Chỉ vài phút sau, đôi dép lại được buộc chắc.
Hòa đưa trả rồi nói:
“Đi tiếp.”
Cụ kể:
“Đôi dép ấy không chỉ do tôi mang. Có lúc là bàn tay đồng đội giữ cho nó còn đi được.”
Mùa mưa Trường Sơn khắc nghiệt hơn nhiều.
Đất đỏ bám dày dưới đế dép.
Nước ngấm lạnh buốt bàn chân.
Có hôm hành quân cả ngày, đến tối tháo dép ra thì chân phồng rộp, đế dép cũng mòn thêm một lớp.
Một chiến sĩ trẻ nhìn đôi dép của Dinh rồi hỏi:
“Anh không có đôi khác à?”
Dinh cười:
“Có chứ.”
“Ở đâu?”
“Ở ngày hòa bình.”
Câu nói làm cả nhóm im lặng một lúc rồi cùng bật cười.
Đêm ấy, họ ngồi quanh bếp lửa hong dép.
Những đôi dép đủ kiểu được xếp thành hàng bên than hồng: đôi còn mới, đôi đã vá quai nhiều lần, đôi mòn lệch vì chủ nhân đi nhiều đường dốc.
Hòa cầm đôi dép của Dinh lên, nhìn phần đế đã mỏng rồi nói:
“Cái này sắp thành dép giấy.”
Dinh đáp:
“Miễn nó còn đưa tôi theo kịp đơn vị.”
Nhiều tháng sau, đôi dép thật sự mòn đến mức gần chạm đất.
Đi trên đá sắc, bàn chân cảm nhận rõ từng cạnh đá.
Nhưng Dinh vẫn chưa bỏ.
Ông bảo:
“Bỏ thì tiếc. Nó theo mình qua biết bao chặng đường.”
Có lần đơn vị nghỉ bên một con suối cạn.
Dinh tháo dép, đặt cạnh bờ đá rồi ngâm chân xuống nước.
Hòa nhìn đôi dép nằm im bên bờ suối, khẽ nói:
“Nó già hơn cả chúng mình.”
Dinh cười:
“Ừ, mà vẫn chưa chịu nghỉ.”
Sau chiến tranh, trở về quê, Dinh được phát đôi dép mới.
Ông cầm đôi dép mới trên tay mà lại nhớ đôi dép cũ giữa Trường Sơn.
Đôi dép mòn, vá nhiều lần, dính đầy đất đỏ và mùi khói bếp rừng.
Ông không giữ được nó đến ngày nay.
Cao su đã mục theo năm tháng.
Nhưng ký ức về nó thì vẫn còn nguyên.
Tôi hỏi:
“Vì sao cụ nhớ mãi một đôi dép cũ?”
Ông nhìn xuống bàn chân mình rồi đáp:
“Vì nó đi cùng tuổi trẻ của tôi.”
Rồi ông nói thêm:
“Người ta thường nhớ những điều lớn lao. Còn tôi nhớ những thứ đã cùng mình vượt qua gian khổ.”
Là người sưu tầm lịch sử, tôi hiểu rằng chiến tranh không chỉ được ghi lại bằng súng đạn và chiến công. Nó còn hiện lên qua những vật bình dị: chiếc bi đông móp méo, lá thư cháy sém, chiếc áo vá vai và đôi dép cao su mòn đến đế.
Đôi dép cao su mòn đến đế vì thế không chỉ là câu chuyện về sự thiếu thốn của người lính Trường Sơn. Đó là câu chuyện về sức chịu đựng, về những chặng đường dài và về tình đồng đội đã giúp nhau đi tiếp khi mọi thứ đều đã cũ mòn.
Và có lẽ, trong ký ức của người cựu chiến binh năm ấy, đôi dép không chỉ mang một con người qua núi rừng, mà còn mang theo cả một thời tuổi trẻ đầy gian khổ nhưng không bao giờ khuất phục.



