Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

ĐỔI GÀ LẤY ÁO

Đoạn hồi ký này khá dài và có nhiều chi tiết rất “đắt”: câu chuyện ông già Lào đổi gà lấy áo, kỷ luật dân vận, sự tử tế của binh trạm C, sự lạnh nhạt ở binh trạm Đ, trận oanh kích của máy bay Mỹ và cái Tết giữa chiến trường. Vì vậy tên đoạn nên gợi được tình người – kỷ luật – thử thách chiến tranh.

Lai Châu10/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Một chiều dừng chân bên khe suối, chúng tôi tìm được hốc đá kín đáo để nấu bữa cơm tối và trú đêm. Mọi người loay hoay theo phần việc của mình. Có tiếng báo cáo của đồng chí cảnh giới. Tôi quay ra gặp một cụ già người Lào. Ông lão tóc bạc trắng da đen sạm, cơ bắp còn rắn chắc. Trời rét cắt ruột thế mà ông mình trần, vận chiếc khố túm vá nhiều chỗ mong manh. Tay ông ôm một con gà mái đẻ nặng ít ra cũng ký rưỡi. Ông nói một tràng dài tiếng Lào để lộ hai hàm chẳng còn mấy cái răng. Tôi không hiểu ý ông nói. Một đội viên biết chút ít tiếng địa phương dịch lại tôi nghe. Té ra ông muốn đổi con gà lấy một cái áo ngắn tay cổ vuông. Đây là loại áo lót may bằng vải thường nhuộm màu trông như áo kaki vàng. Lên đường đi B (vào chiến trường miền Nam) mỗi người chúng tôi được phát hai cái. Ông lão thấy mấy chiếc áo anh em đang hong khô bên bếp lửa. Ông muốn đổi con gà lấy một cái. Nhìn thấy gà mắt ai cũng trố lên. Lâu lắm, nhiều tháng không còn cảm nhận cái hương vị thơm ngon của miếng thịt gà. Ai cũng thèm. Bây giờ nó đang trước mắt. Một cái áo cỡ này chẳng giá trị mấy, nhưng có con gà luộc xé phay ngay lúc đói, thèm ăn thì quá tuyệt. Nước luộc đổ thêm chén gạo sẽ có nồi cháo bốc hơi ngon lành. Được gà bồi dưỡng bù lại những ngày vất vả. Ông già cần áo chống rét, mình cần gà. Một cuộc đổi chác công bằng sòng phẳng chẳng thiệt ai - ai cũng nghĩ thế. Nhưng một luồng tư tưởng khác mạnh hơn lấn lướt.

Trước chuyến đi vài hôm, hội nghị chi bộ Đảng được triệu tập để quán triệt nghị quyết của Đảng ủy mặt trận. Nhiều vấn đề đưa bàn, trong đó, việc tuyệt đối chấp hành kỷ luật dân vận: không xin, mua bán, đổi chác bất cứ vật gì với dân. Ở đây không có ai ngoài bảy người trong cuộc đồng thuận và ông già. Sẽ chẳng tai tiếng nào đến tai lãnh đạo. Nhưng, tuy lúc này có bảy người bằng xương bằng thịt ngồi đây còn có lương tri của quân nhân cách mạng và ý chí của người cộng sản.

Tôi lúc còn ở đơn vị là tiểu đoàn trưởng, thường vụ Đảng ủy tiểu đoàn, về sư đoàn bộ binh làm trợ lý trở thành đảng viên thường. Dù cương vị nào tôi vẫn là đảng viên cộng sản. Tôi phải gương mẫu chấp hành triệt để nghị quyết Đảng. Đó là sức mạnh của Đảng, của quân đội không thứ vũ khí nào đánh bại. Chấp nhận để có những miếng thịt tươi chúng tôi sẽ phá bỏ nghị quyết Đảng ư? Câu trả lời: Không! Điều suy nghĩ này mọi người như tôi. Trong nhóm chúng tôi có 3 Đảng viên. Khi tôi nêu vấn đề này ai cũng đồng tình kể cả anh em ngoài Đảng. Không một ai tỏ ra tiếc rẻ.

Trong lúc chờ đợi quyết định đổi áo lấy gà, mắt ông lão cứ hấp háy dán vào chiếc áo trong tay anh đội viên trẻ. Anh vụt đứng dậy cầm áo bước lại chỗ ông, nhiều anh lừ mắt có ý cản. Anh nói:

- Em xin phép tặng không ông ấy chứ không đổi gà.

Đồng chí đội trưởng trinh sát giọng sôi nổi:

- Ậy, đồng chí không nhiều áo, vả lại nó mong manh không đủ ấm. Tôi còn thừa một chiếc sợi đan đây để tôi tặng ông ấy. Vừa nói anh tròng vào người ông lão chiếc áo sợi màu tím than khá dày, tay dài cổ đứng. Phủ trùm lên nét mặt nhăn nheo là nụ cười rạng rỡ lan tỏa khuôn mặt ông. Ông cầm con gà dúi vào người đội trưởng ra dấu như muốn nói: “Anh cho tôi áo anh phải lấy gà. Trông đây, nó béo chứ, sắp đẻ trứng đấy”.

Đồng chí đội trưởng xua tay lắc đầu lia lịa. Anh đội viên bập bẹ tiếng Lào phải giải thích mãi với ông. Phần gạo chưa kịp vo anh trút vội vào cái túi mây đan của lão đeo lủng lẳng bên hông. Ông đứng đó tần ngần, người như lặng đi. Nơi hai khóe mắt già nua những giọt nước long lanh lăn dài xuống đôi má sạm đen nắng gió.

Năm ngày qua, chúng tôi lặn lội hết cụm rừng này đến đồi núi kia. Công việc hoàn thành. Giờ phải quay về đúng hẹn. Những binh trạm trên đường đi qua hay tá túc lại đều sốt sắng giúp đỡ.

Chiều 30 Tết về đến binh trạm C được anh chị em cán bộ nhân viên đón tiếp niềm nở. Được bố trí chỗ nghỉ đêm có sạp nằm, vách thưng kín gió. Chúng tôi sẽ đón giao thừa ở đây với cái bụng lép kẹp. Số gạo mang theo chỉ đủ dành cho buổi trưa mai. Đói, không một ai nhắc bàn đến chuyện Tết nhất. Cố mà quên đi.

Có tiếng đồng chí trạm trưởng mời chúng tôi nhân tiễn năm cũ mừng năm mới. Nghe cứ tưởng đồng chí đùa chọc vui cho qua cơn buồn nỗi nhớ mông lung. Nhưng không, thái độ đồng chí trang trọng, lời mời nghiêm túc. Nhận ra điều mời thật lòng làm chúng tôi quá ngạc nhiên, ở các trạm khác dù các đồng chí tử tế mấy cũng chỉ cho phép chúng tôi được nghỉ ngơi trong trạm. Điều ưu tiên này dành riêng cán bộ cao cấp từ sư đoàn, quân khu đến Trung ương. Cỡ cán bộ trung đoàn trở xuống mắc võng nằm ở bãi khách. Quy định của tổ chức đường dây là thế.

Có chỗ nghỉ được mời ăn trong khi lương cạn bụng đói có khác chi nắng hạn gặp mưa rào. Thật vui như mở cờ trong bụng. Ngỡ tưởng được “chiêu đãi” bữa ăn đạm bạc cơm hẩm với tí muối, thế đã sang. Nào ngờ trên mặt bàn bằng cây rừng ghép, món ăn bày ra làm lóa mắt những cái mồm háu ăn của cánh lính trinh sát. Mấy con cá chép to bằng bàn tay trẻ nít rán vàng béo ngậy. Thịt gà xé phay trộn bóp lá chanh rừng. Hai cái bánh chưng to tướng được bọc lá chồng lên nhau. Thịt heo kho trứng, nồi thịt đông, đĩa chả lụa. Có cả món dưa hành cải muối. Rau cải bẹ xanh... Nhìn thấy những thức ăn không kém bữa tiệc thịnh soạn của một gia đình khá giả vùng tự do. Mọi người trố mắt hết nhìn các món ăn lại nhìn nhau. Không ai đụng đến muỗng đũa, e rằng một va chạm nhỏ những thứ trên sẽ tan biến đi.

Đồng chí trạm trưởng lên tiếng làm chúng tôi sực tỉnh. Hình như đoán được tâm trạng khách, giọng xứ Nghệ chắc nịch, anh phân bua: “Năm cũ sắp qua, năm mới ngấp nghé đến, xin chúc mừng. Các bạn đừng ngại. Chuyện “nhường cơm sẻ áo”, “nhịn miệng đãi khách” là nét văn hóa đặc trưng của dân tộc mình, vả lại cánh ta đều con cháu Bác Hồ. Chúng tôi có điều kiện hơn các đồng chí. Trạm có trại sản xuất nhỏ trỉa đôi sào nếp, vài bát đỗ xanh. Nuôi vài con lợn, bầy gà đẻ để thỉnh thoảng cải thiện chất tươi lúc tết nhất lễ lạt. Cá sẵn ngoài sông với giàn lưới bỏ ít công sẽ được một vài ký. Rau củ tự trồng... Các đồng chí là khách đặc biệt được Bộ Tư lệnh mặt trận yêu cầu giúp đỡ nếu các đồng chí ghé qua”.

Không đợi mời mọc thêm, mọi người cầm đũa. Khi đói gặp bữa ăn ngon chắc sẽ “ăn như hổ đói”. Nhưng không, ai cũng chậm rãi từ tốn. Hình như ai cũng muốn kéo dài tận hưởng cái đậm đà chất xuân không những toát ra từ mùi vị thơm ngon của thức ăn mà còn từ con tim và những tấm lòng ưu ái.

Bốn giờ sáng mùng một Tết năm Bính Ngọ (1966) chúng tôi từ giã trạm lên đường. Giữa trưa về đến binh trạm Đ. Nếu bộ đội hành quân phải tới ba giờ chiều mới đến. Trạm Đ nằm ngay ngã ba trục Bắc - Nam và nhánh rẽ xuống đồng bằng nam Thừa Thiên - Quảng Đà. Ẩn mình trong khu rừng nguyên sinh, trạm có hội trường, nhà ở, nhà bếp phòng ăn... khang trang như một doanh trại khá chính quy. Theo hẹn nơi đây có người đón chúng tôi đưa về địa điểm mới của cơ quan Bộ Tư lệnh. Ai cũng hy vọng ngày đầu năm sẽ được đón tiếp như các trạm đã qua. Gạo hết nhẵn chỉ còn đủ cho vắt cơm trưa mang theo. May chiều qua được anh chị em binh trạm C thết cho bữa ăn nhớ đời. Sáng nay làm nồi cháo sườn đặc quánh tiễn khách. Nắm cơm giữ lại cho bữa ăn chiều. Bây giờ chỉ cần rá cơm tí muối. Chừng ấy thôi đã là may mắn.

Băng qua cạnh nhà ăn, anh đội viên khịt khịt mũi kéo áo tôi rồi hất đầu về phía lửa cháy đỏ rực trong cái bếp lộ thiên. Trên đó một chảo thịt to tướng đang sôi sùng sục bốc khói tỏa mùi thơm làm cồn cào ruột gan những kẻ háu ăn bụng đói. Trên sườn nhà treo mấy đùi thịt rừng béo lẳn đỏ tươi. Một chị tuổi trạc trung niên, thân hình cao lớn, miệng phì phèo điếu thuốc lá vấn to bằng ngón tay, đang dùng đôi đũa cả như cặp kiếm gỗ đảo thịt chẳng buồn ngước nhìn đáp lại lời chào của anh lính trẻ. Vẻ mặt lạnh băng của chị ta như muốn nói: “Ngó gì thế? Bộ thèm lắm hả. Cút ra suối nốc nước cho no. Đừng đứng đó nhím chằm chằm chảo thịt vướng tay bà...”.

Chúng tôi thả ba lô ngồi bệt xuống đất bên đống củi khô. Lòng tự trọng nổi lên. Không ai muốn lụy vì miếng ăn. Nghĩ thế, nhưng mùi thơm trong chảo thịt hấp dẫn quá. Nó cứ thách thức chúng tôi, cứ tự do xồng xộc xông vào mũi mỗi người. Nó không nể mặt cánh lính trinh sát vốn có chút kiêu căng ngạo mạn.

Bên trong hội trường trang hoàng màu sắc rực rỡ. Có ảnh lãnh tụ, cờ Đảng cờ Tổ quốc, cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam. Như ở nhà bếp, lủng lẳng nơi sườn nhà hàng chục đòn bánh tét to bằng ống tre lồ ô dài đến gang rưỡi tay. Xung quanh nhà ngập đầy giấy kẹo, bao thuốc lá thơm Cô táp, Cáptan, Rubi... Khác các trạm tôi đi qua, nhu yếu phẩm mang nhãn hiệu sản xuất tại miền Bắc (mấy năm trước tuyệt đối không để lộ, bây giờ công khai). Ở đây toàn hàng nước ngoài hoặc sản xuất tại Sài Gòn. Thuận tay tôi nhặt mấy hộp bìa cứng in nhãn đẹp. Té ra vỏ mấy chai rượu Tây. “Ô, họ chơi sang quá” - một đội viên chép miệng gật gật rồi lại lắc đầu. Anh vừa khen vừa chê cái xa hoa phù phiếm không đúng lúc đúng chỗ của những con người ở binh trạm Đ nói rặt toàn giọng Quảng. Một đồng chí khác lời lẽ thông cảm: “Tết nhất mà! Chắc lâu lâu họ được đồng bào vùng địch gửi ra biếu tặng. Không dùng cũng phí của trời. Đáng trách nếu họ xài tiền của nhân dân tiêu pha kiểu này”.

Có trên chục người vừa nam vừa nữ đang cười nói râm ran bu quanh sòng bài tú lơ khơ. Tốp khác vừa hò hụ vừa đập chan chát những quân cờ lên bàn cờ tướng. Cảnh tượng vui vẻ thanh bình, không ai nghĩ cái hiểm họa có thể bất chợt đến trong ngày đầu năm.

Phải đến lần thứ ba câu hỏi khá lễ độ của đội trưởng trinh sát xin được gặp người phụ trách mới được chú ý. Cả nhóm trố mắt nhìn chúng tôi. Họ có vẻ lạ lẫm với toán người như vừa dưới đất chui lên quấy rầy cuộc vui của họ. Thoáng chút sững sờ họ quay lại cuộc chơi bỏ mặc anh trinh sát đứng ngẩn tò te ngượng ngùng bối rối. Sợ anh bực tức không nén được cơn giận, tôi nắm tay anh kéo lui về sau vừa lúc một người tuổi trạc trung niên hất hàm hỏi:

- Đồng chí ở đâu đến, cần gì?

Tôi cố gắng lấy giọng từ tốn trình bày lý do. Anh ta không đáp, hất đầu ra hiệu cho một thanh niên bên cạnh. Anh này rút trong túi mảnh giấy con đưa tôi. Anh ta phát âm giọng rất nặng vùng biển Khu 5: “Không ai đón đưa các ông đâu. Cứ theo ghi trong giấy mà làm”. Anh ta phất tay như bảo chúng tôi: “Cút đi là vừa”. Tôi liếc qua mặt sau của bao thuốc lá Điện Biên là những con số ghi tọa độ vị trí cơ quan Bộ Tư lệnh theo ký hiệu mật.

Hình như để tống khứ những vị khách không mời mà đến, người trạc tuổi trung niên vừa đập bài vừa nói: “Các đồng chí đi đi cho kịp. Tối không mò ra đường đâu”.

Biết họ đuổi khéo mình, không chờ thêm lời thúc giục, chúng tôi vác ba lô đi ngay sau lời cám ơn miễn cưỡng chiếu lệ. Mùi thơm chảo thịt đã được bớt lửa cứ xồng xộc xông vào mũi. Đi hàng trăm mét nó vẫn vương vấn không tha. Cái mùi chết tiệt ấy không thể lan tỏa xa như thế, nhưng cảm giác hơi hướng của nó cứ lởn vởn trước mồm mũi mình. Nhìn chiếc đồng hồ đeo tay Pơgiôt sắp qua hết một giờ chiều.

Vượt khỏi trạm hơn nửa tiếng đồng hồ, leo lên một đỉnh dốc nhiều cây râm mát, chúng tôi đặt ba lô nghỉ bên một hốc đá đọng nhiều nước. Nước mát lạnh làm dịu hẳn cái bực bội nóng bức trong người, xua đi hơi hướng chảo thịt hâm sôi âm ỉ bốc khói. Chúng tôi bóc vắt cơm bằng nắm tay dùng bữa trưa với tí muối riềng.

Dò bản đồ xác định vị trí cơ quan Bộ Tư lệnh. Muốn đến đó phải vượt qua một hòn núi trọc nổi lên như cái vung úp có tên Api. Độ cao so mặt biển 400 mét dốc đứng. Chắc có đường đi nhưng không người dẫn, chúng tôi phải tự vạch lối mà đi. Điều này với lính trinh sát là chuyện thường ngày. Có tiếng vo vo lượn trên đầu. Thoáng nghe biết đó là chiếc OV10, loại máy bay thám thính hai thân thon nhỏ sơn màu bạc. Nó bay đảo nhẹ nhàng như tàu lượn thể thao. Có lúc bổ nhào như tiêm kích. Chút ít kinh nghiệm có được khi vào chiến trường, chúng tôi biết khi nó bay ngay đầu thì tầm quan sát của nó không phải chỗ mình. Nhìn theo vòng lượn, tôi đoán hướng chú ý của nó có thể binh trạm Đ. Nơi đây bếp núc lộ liễu quá, củi lửa cháy rần rật trên mặt đất làm sao tránh khỏi không có khói. Không hiểu sao họ khinh thường mà không làm theo kiểu bếp Hoàng Cầm. Có tiếng nói của đồng chí nào đó: “Mắt tên phi công nếu mù không nhìn thấy khói từ nhà bếp tỏa ra, mũi nó vẫn ngửi được mùi thịt hầm đang bốc lên tận trời xanh. Chà chà nghĩ đến chảo thịt là nước mồm nước miếng ứa ra”. Tiếp câu nói của anh đội viên trẻ là tiếng vút của rốc-két được phóng đi từ chiếc máy bay thám thính xuống mục tiêu. Đứng trên đồi cao chúng tôi nhìn thấy cái đầu đội mũ bay của tên giặc lái khi máy bay bổ nhào ngang tầm nhìn. Sau tiếng nổ bùng là cụm khói trắng tỏa lên. Có tiếng nói lớn; “Chà, nó chỉ điểm cho “bọn chó đẻ” đến kìa”. Tiếng gầm rít của tốp cường kích phản lực thay nhau bổ nhào ném bom chùm, bom nổ chụp, bom phát quang vào khu vực mục tiêu. Những thứ này nhằm gây thương vong bất ngờ sinh lực lộ trên mặt đất vừa làm lộ mục tiêu. Sau đó những tốp khác bay đến ném các loại bom sát thương người ẩn trong công sự.

Mới đây mấy mươi phút, không nói ra nhưng ai cũng ghét tính bủn xỉn keo kiệt của những con người ích kỷ ở binh trạm Đ. Qua họ so với anh chị em ở binh trạm C có đồng chí nói: “Cuối năm được hên, ngày đầu năm không may mắn thủ trưởng nhỉ”. Giờ đây lại lo cho sinh mạng họ. Không biết qua trận oanh kích của máy bay địch có ai hề hấn gì không? Mong sao mục tiêu của lũ cướp trời không phải binh trạm. Nếu đúng binh trạm thì đừng ai thương vong. Có tiếng nói đùa không đúng lúc: “Cả cái chảo thịt rừng đang hầm nhừ kia - lạy chúa - đừng bị vùi lấp”.

Chúng tôi nặng nề lê bước về hướng núi Api trong tâm trạng vừa giận vừa thương. Họ chơi không đẹp với bọn mình. Ngày đầu năm nhìn thấy thức ăn dư dả, họ chẳng cho ăn cũng không mời uống, nhưng đều là đồng đội đồng chí, anh em một nhà cùng chung mục đích đấu tranh. Tôi nhớ câu nói của binh trạm trưởng binh trạm C: “Nhịn miệng đãi khách là một nét văn hóa của dân tộc mình”.

Bốn giờ chiều chúng tôi đến chân núi. Núi không cao nhưng dốc đứng, toàn một màu đỏ sẫm của đất badan. Cây cỏ lưa thưa. Dưới chân núi trời đang sáng sủa. Leo được phần ba bỗng mây mù kéo đến phủ trùm. Trời tối sầm. Mưa bụi lất phất, gió lạnh buốt rát mặt. Dốc đứng trơn trợt. Chân này bấm sâu lấy đà chân kia nhích lên lại tụt về vị trí cũ, có khi tụt xa hơn. Anh em gác súng lên ba lô, tay nắm chặt từng bụi cây lùm cỏ trườn lên từng tấc một. Thân người ép sát đất chạm sỏi hoặc rễ cây nghiến cứa vào ngực vào bụng đau rát kinh khủng. Cứ thế chúng tôi lết từng chút một. Cuối cùng cũng đến đích.

Mệt phờ râu thở lấy thở để. Quần áo lấm lem như chui ra từ ao bùn. Vất vả nhưng chúng tôi mừng. Nhiệm vụ hoàn thành, về đúng hẹn. Đi đủ về không thiếu một ai. Lúc này đã hơn 6 giờ chiều. Có tiếng cú rúc đâu đó. Biết là tín hiệu của cánh trinh sát đón đợi bắt liên lạc. Gặp người mình mừng quá quên cả đói. Dùng đèn bấm soi đường, chúng tôi vượt qua những khối đá trơn trợt, lội dọc nhiều khe nước chảy siết, tám giờ đêm đến lán Bộ Tư lệnh.

Nghe tiếng các anh chồm dậy. Chiếc đèn bão nhỏ phủ kín một lớp vải đen bọc ngoài được vặn lên tỏa ra ánh sáng mờ mờ không soi rõ mặt người. Anh Trân phó Tư lệnh sư đoàn với giọng Huế hay pha trò thốt lên mừng rỡ thân mật: “Nỹ mày về đó à. “Chu choa” anh em không hề gì chứ? Bọn anh lo đến thắt cổ họng. Bên kỹ thuật báo trưa nay máy bay Mỹ oanh kích khu vực binh trạm Đ. Tớ đoán lúc này mấy cậu về đến đây. Chà không dính là hay”.

Thật ra chuyến đi này chúng tôi không phải chỉ gặp một trận bom ở binh trạm Đ. vả lại lúc ấy anh em đã rời xa trạm hơn nửa tiếng. Mấy ngày trước đó phía đông bản Đôn bên đất Việt, một lần B52 quét sát chỗ nghỉ đêm. Một quả bom đĩa rơi cách hầm trú ẩn chúng tôi 15 mét. Hầm bị sức ép, đất dồn vùi lấp chúng tôi gần cả nửa người. Ngày nào cũng gặp một hai trận: lúc B52 lúc cường kích phản lực. Đáng sợ lũ cắt bom trộm ban đêm rất bất ngờ. May mắn không lẫn nào chúng tôi bị chúng sát thương.

Đồng chí Tư lệnh Vũ Lăng lúc này mới lên tiếng. Giọng ông khàn đục do trời lạnh viêm họng: “Các đồng chí vất vả. về đúng hẹn an toàn. Tốt, giờ về Ban nghỉ, mai báo cáo”.

Trời tối đen mưa không dứt. Không gian mịt mờ. Gió rít ào ào. Cây rừng xào xạc nghiêng ngả. Tôi chưa biết nơi ở hướng nào.

Mấy bóng người ập đến cùng với tiếng reo chào đón. Kẻ gỡ ba lô người nắm tay lôi đi. Tôi lạnh run người nổi da gà, miệng đánh bò cạp mà lòng vẫn thấy ấm áp. Cái tình đồng chí đồng đội xua tan mọi vất vả nhọc nhằn.

Đồng chí Hưng trợ lý hóa học đem đến cho tôi một bát xôi đậu đen. Anh nói: “Tết với chúng mình duy nhất chỉ có thứ này. Biết anh hôm nay về cố dành phần”. Bù lại tôi lục túi lấy nửa bao Điện Biên được bọc kỹ trong mảnh ni lông của trạm trưởng binh trạm C tặng chia mỗi người một điếu. Điện Biên không phải thuốc lá hảo hạng nhưng sao lúc này khói thuốc tỏa ra thơm lừng, đọng lại mãi nơi những tàu lá chuối rừng được lợp che mưa.

Mọi câu chuyện đến lúc phải ngừng. Ai ở lán nào về lán nấy. Lán chúng tôi còn lại ba người. Không ai muốn nghỉ. Cả ba tựa lưng vào nhau ngồi hát. Hát đi hát lại, hát mãi những ca khúc mùa xuân trong những giờ phút còn lại trong đêm mùng một Tết, mặc cho ngoài trời ngập tràn mưa gió.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn