ĐỔI GÀ LẤY ÁO
Đoạn hồi ký này khá dài và có nhiều chi tiết rất “đắt”: câu chuyện ông già Lào đổi gà lấy áo, kỷ luật dân vận, sự tử tế của binh trạm C, sự lạnh nhạt ở binh trạm Đ, trận oanh kích của máy bay Mỹ và cái Tết giữa chiến trường. Vì vậy tên đoạn nên gợi được tình người – kỷ luật – thử thách chiến tranh.
Một chiều dừng chân bên khe suối, chúng tôi tìm được hốc đá kín đáo để nấu bữa cơm tối và trú đêm. Mọi người loay hoay theo phần việc của mình. Có tiếng báo cáo của đồng chí cảnh giới. Tôi quay ra gặp một cụ già người Lào. Ông lão tóc bạc trắng da đen sạm, cơ bắp còn rắn chắc. Trời rét cắt ruột thế mà ông mình trần, vận chiếc khố túm vá nhiều chỗ mong manh. Tay ông ôm một con gà mái đẻ nặng ít ra cũng ký rưỡi. Ông nói một tràng dài tiếng Lào để lộ hai hàm chẳng còn mấy cái răng. Tôi không hiểu ý ông nói. Một đội viên biết chút ít tiếng địa phương dịch lại tôi nghe. Té ra ông muốn đổi con gà lấy một cái áo ngắn tay cổ vuông. Đây là loại áo lót may bằng vải thường nhuộm màu trông như áo kaki vàng. Lên đường đi B (vào chiến trường miền Nam) mỗi người chúng tôi được phát hai cái. Ông lão thấy mấy chiếc áo anh em đang hong khô bên bếp lửa. Ông muốn đổi con gà lấy một cái. Nhìn thấy gà mắt ai cũng trố lên. Lâu lắm, nhiều tháng không còn cảm nhận cái hương vị thơm ngon của miếng thịt gà. Ai cũng thèm. Bây giờ nó đang trước mắt. Một cái áo cỡ này chẳng giá trị mấy, nhưng có con gà luộc xé phay ngay lúc đói, thèm ăn thì quá tuyệt. Nước luộc đổ thêm chén gạo sẽ có nồi cháo bốc hơi ngon lành. Được gà bồi dưỡng bù lại những ngày vất vả. Ông già cần áo chống rét, mình cần gà. Một cuộc đổi chác công bằng sòng phẳng chẳng thiệt ai - ai cũng nghĩ thế. Nhưng một luồng tư tưởng khác mạnh hơn lấn lướt.
Trước chuyến đi vài hôm, hội nghị chi bộ Đảng được triệu tập để quán triệt nghị quyết của Đảng ủy mặt trận. Nhiều vấn đề đưa bàn, trong đó, việc tuyệt đối chấp hành kỷ luật dân vận: không xin, mua bán, đổi chác bất cứ vật gì với dân. Ở đây không có ai ngoài bảy người trong cuộc đồng thuận và ông già. Sẽ chẳng tai tiếng nào đến tai lãnh đạo. Nhưng, tuy lúc này có bảy người bằng xương bằng thịt ngồi đây còn có lương tri của quân nhân cách mạng và ý chí của người cộng sản.
Tôi lúc còn ở đơn vị là tiểu đoàn trưởng, thường vụ Đảng ủy tiểu đoàn, về sư đoàn bộ binh làm trợ lý trở thành đảng viên thường. Dù cương vị nào tôi vẫn là đảng viên cộng sản. Tôi phải gương mẫu chấp hành triệt để nghị quyết Đảng. Đó là sức mạnh của Đảng, của quân đội không thứ vũ khí nào đánh bại. Chấp nhận để có những miếng thịt tươi chúng tôi sẽ phá bỏ nghị quyết Đảng ư? Câu trả lời: Không! Điều suy nghĩ này mọi người như tôi. Trong nhóm chúng tôi có 3 Đảng viên. Khi tôi nêu vấn đề này ai cũng đồng tình kể cả anh em ngoài Đảng. Không một ai tỏ ra tiếc rẻ.
Trong lúc chờ đợi quyết định đổi áo lấy gà, mắt ông lão cứ hấp háy dán vào chiếc áo trong tay anh đội viên trẻ. Anh vụt đứng dậy cầm áo bước lại chỗ ông, nhiều anh lừ mắt có ý cản. Anh nói:
- Em xin phép tặng không ông ấy chứ không đổi gà.
Đồng chí đội trưởng trinh sát giọng sôi nổi:
- Ậy, đồng chí không nhiều áo, vả lại nó mong manh không đủ ấm. Tôi còn thừa một chiếc sợi đan đây để tôi tặng ông ấy. Vừa nói anh tròng vào người ông lão chiếc áo sợi màu tím than khá dày, tay dài cổ đứng. Phủ trùm lên nét mặt nhăn nheo là nụ cười rạng rỡ lan tỏa khuôn mặt ông. Ông cầm con gà dúi vào người đội trưởng ra dấu như muốn nói: “Anh cho tôi áo anh phải lấy gà. Trông đây, nó béo chứ, sắp đẻ trứng đấy”.
Đồng chí đội trưởng xua tay lắc đầu lia lịa. Anh đội viên bập bẹ tiếng Lào phải giải thích mãi với ông. Phần gạo chưa kịp vo anh trút vội vào cái túi mây đan của lão đeo lủng lẳng bên hông. Ông đứng đó tần ngần, người như lặng đi. Nơi hai khóe mắt già nua những giọt nước long lanh lăn dài xuống đôi má sạm đen nắng gió.
| Năm ngày qua, chúng tôi lặn lội hết cụm rừng này đến đồi núi kia. Công việc hoàn thành. Giờ phải quay về đúng hẹn. Những binh trạm trên đường đi qua hay tá túc lại đều sốt sắng giúp đỡ. Chiều 30 Tết về đến binh trạm C được anh chị em cán bộ nhân viên đón tiếp niềm nở. Được bố trí chỗ nghỉ đêm có sạp nằm, vách thưng kín gió. Chúng tôi sẽ đón giao thừa ở đây với cái bụng lép kẹp. Số gạo mang theo chỉ đủ dành cho buổi trưa mai. Đói, không một ai nhắc bàn đến chuyện Tết nhất. Cố mà quên đi. Có tiếng đồng chí trạm trưởng mời chúng tôi nhân tiễn năm cũ mừng năm mới. Nghe cứ tưởng đồng chí đùa chọc vui cho qua cơn buồn nỗi nhớ mông lung. Nhưng không, thái độ đồng chí trang trọng, lời mời nghiêm túc. Nhận ra điều mời thật lòng làm chúng tôi quá ngạc nhiên, ở các trạm khác dù các đồng chí tử tế mấy cũng chỉ cho phép chúng tôi được nghỉ ngơi trong trạm. Điều ưu tiên này dành riêng cán bộ cao cấp từ sư đoàn, quân khu đến Trung ương. Cỡ cán bộ trung đoàn trở xuống mắc võng nằm ở bãi khách. Quy định của tổ chức đường dây là thế. Có chỗ nghỉ được mời ăn trong khi lương cạn bụng đói có khác chi nắng hạn gặp mưa rào. Thật vui như mở cờ trong bụng. Ngỡ tưởng được “chiêu đãi” bữa ăn đạm bạc cơm hẩm với tí muối, thế đã sang. Nào ngờ trên mặt bàn bằng cây rừng ghép, món ăn bày ra làm lóa mắt những cái mồm háu ăn của cánh lính trinh sát. Mấy con cá chép to bằng bàn tay trẻ nít rán vàng béo ngậy. Thịt gà xé phay trộn bóp lá chanh rừng. Hai cái bánh chưng to tướng được bọc lá chồng lên nhau. Thịt heo kho trứng, nồi thịt đông, đĩa chả lụa. Có cả món dưa hành cải muối. Rau cải bẹ xanh... Nhìn thấy những thức ăn không kém bữa tiệc thịnh soạn của một gia đình khá giả vùng tự do. Mọi người trố mắt hết nhìn các món ăn lại nhìn nhau. Không ai đụng đến muỗng đũa, e rằng một va chạm nhỏ những thứ trên sẽ tan biến đi. Đồng chí trạm trưởng lên tiếng làm chúng tôi sực tỉnh. Hình như đoán được tâm trạng khách, giọng xứ Nghệ chắc nịch, anh phân bua: “Năm cũ sắp qua, năm mới ngấp nghé đến, xin chúc mừng. Các bạn đừng ngại. Chuyện “nhường cơm sẻ áo”, “nhịn miệng đãi khách” là nét văn hóa đặc trưng của dân tộc mình, vả lại cánh ta đều con cháu Bác Hồ. Chúng tôi có điều kiện hơn các đồng chí. Trạm có trại sản xuất nhỏ trỉa đôi sào nếp, vài bát đỗ xanh. Nuôi vài con lợn, bầy gà đẻ để thỉnh thoảng cải thiện chất tươi lúc tết nhất lễ lạt. Cá sẵn ngoài sông với giàn lưới bỏ ít công sẽ được một vài ký. Rau củ tự trồng... Các đồng chí là khách đặc biệt được Bộ Tư lệnh mặt trận yêu cầu giúp đỡ nếu các đồng chí ghé qua”. Không đợi mời mọc thêm, mọi người cầm đũa. Khi đói gặp bữa ăn ngon chắc sẽ “ăn như hổ đói”. Nhưng không, ai cũng chậm rãi từ tốn. Hình như ai cũng muốn kéo dài tận hưởng cái đậm đà chất xuân không những toát ra từ mùi vị thơm ngon của thức ăn mà còn từ con tim và những tấm lòng ưu ái. Bốn giờ sáng mùng một Tết năm Bính Ngọ (1966) chúng tôi từ giã trạm lên đường. Giữa trưa về đến binh trạm Đ. Nếu bộ đội hành quân phải tới ba giờ chiều mới đến. Trạm Đ nằm ngay ngã ba trục Bắc - Nam và nhánh rẽ xuống đồng bằng nam Thừa Thiên - Quảng Đà. Ẩn mình trong khu rừng nguyên sinh, trạm có hội trường, nhà ở, nhà bếp phòng ăn... khang trang như một doanh trại khá chính quy. Theo hẹn nơi đây có người đón chúng tôi đưa về địa điểm mới của cơ quan Bộ Tư lệnh. Ai cũng hy vọng ngày đầu năm sẽ được đón tiếp như các trạm đã qua. Gạo hết nhẵn chỉ còn đủ cho vắt cơm trưa mang theo. May chiều qua được anh chị em binh trạm C thết cho bữa ăn nhớ đời. Sáng nay làm nồi cháo sườn đặc quánh tiễn khách. Nắm cơm giữ lại cho bữa ăn chiều. Bây giờ chỉ cần rá cơm tí muối. Chừng ấy thôi đã là may mắn. Băng qua cạnh nhà ăn, anh đội viên khịt khịt mũi kéo áo tôi rồi hất đầu về phía lửa cháy đỏ rực trong cái bếp lộ thiên. Trên đó một chảo thịt to tướng đang sôi sùng sục bốc khói tỏa mùi thơm làm cồn cào ruột gan những kẻ háu ăn bụng đói. Trên sườn nhà treo mấy đùi thịt rừng béo lẳn đỏ tươi. Một chị tuổi trạc trung niên, thân hình cao lớn, miệng phì phèo điếu thuốc lá vấn to bằng ngón tay, đang dùng đôi đũa cả như cặp kiếm gỗ đảo thịt chẳng buồn ngước nhìn đáp lại lời chào của anh lính trẻ. Vẻ mặt lạnh băng của chị ta như muốn nói: “Ngó gì thế? Bộ thèm lắm hả. Cút ra suối nốc nước cho no. Đừng đứng đó nhím chằm chằm chảo thịt vướng tay bà...”. Chúng tôi thả ba lô ngồi bệt xuống đất bên đống củi khô. Lòng tự trọng nổi lên. Không ai muốn lụy vì miếng ăn. Nghĩ thế, nhưng mùi thơm trong chảo thịt hấp dẫn quá. Nó cứ thách thức chúng tôi, cứ tự do xồng xộc xông vào mũi mỗi người. Nó không nể mặt cánh lính trinh sát vốn có chút kiêu căng ngạo mạn. Bên trong hội trường trang hoàng màu sắc rực rỡ. Có ảnh lãnh tụ, cờ Đảng cờ Tổ quốc, cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam. Như ở nhà bếp, lủng lẳng nơi sườn nhà hàng chục đòn bánh tét to bằng ống tre lồ ô dài đến gang rưỡi tay. Xung quanh nhà ngập đầy giấy kẹo, bao thuốc lá thơm Cô táp, Cáptan, Rubi... Khác các trạm tôi đi qua, nhu yếu phẩm mang nhãn hiệu sản xuất tại miền Bắc (mấy năm trước tuyệt đối không để lộ, bây giờ công khai). Ở đây toàn hàng nước ngoài hoặc sản xuất tại Sài Gòn. Thuận tay tôi nhặt mấy hộp bìa cứng in nhãn đẹp. Té ra vỏ mấy chai rượu Tây. “Ô, họ chơi sang quá” - một đội viên chép miệng gật gật rồi lại lắc đầu. Anh vừa khen vừa chê cái xa hoa phù phiếm không đúng lúc đúng chỗ của những con người ở binh trạm Đ nói rặt toàn giọng Quảng. Một đồng chí khác lời lẽ thông cảm: “Tết nhất mà! Chắc lâu lâu họ được đồng bào vùng địch gửi ra biếu tặng. Không dùng cũng phí của trời. Đáng trách nếu họ xài tiền của nhân dân tiêu pha kiểu này”. Mới đây mấy mươi phút, không nói ra nhưng ai cũng ghét tính bủn xỉn keo kiệt của những con người ích kỷ ở binh trạm Đ. Qua họ so với anh chị em ở binh trạm C có đồng chí nói: “Cuối năm được hên, ngày đầu năm không may mắn thủ trưởng nhỉ”. Giờ đây lại lo cho sinh mạng họ. Không biết qua trận oanh kích của máy bay địch có ai hề hấn gì không? Mong sao mục tiêu của lũ cướp trời không phải binh trạm. Nếu đúng binh trạm thì đừng ai thương vong. Có tiếng nói đùa không đúng lúc: “Cả cái chảo thịt rừng đang hầm nhừ kia - lạy chúa - đừng bị vùi lấp”. |


