độI TnXP K53 QUân KhU Trị ThIÊn
Giữa năm 1965, theo yêu cầu của phân khu Trị Tiên - Huế, sau khi thoả thuận với Ban Tổ chức TW Đảng, Trung ương Đoàn TNLĐ Việt Nam đã quyết định thành lập một đội TNXP lấy phiên hiệu là K53. Đội viên được tuyển chọn là các đoàn viên, thanh niên, phần lớn là học sinh cấp II, III ở 3 tỉnh Hà Tây, Nam Định, Ninh Bình. Mỗi tỉnh 1 đại đội, mỗi đại đội từ 105-120 đội viên do các cán bộ địa phương làm C trưởng, lãnh đạo đội là các cán bộ Đoàn miền Nam tập kết quê ở 2 tỉnh Quảng Trị, Từa Tiên Huế
Ngày 16/8/1965, K53 làm lễ xuất quân đi chiến trường Trị
Tiên - Huế. Cuối năm 1965, K53 hành quân ngược ra Bắc, mở
đường mới song song với đường dây 559 để đưa cán bộ, chiến sĩ,
vũ khí, lương thực, thuốc men vào Nam, cáng tải thương binh ra
Bắc điều trị. Tuyến đường hết sức bí mật vì phải luồn qua nhiều cứ
điểm địch, trong vòng tuần tra nghiêm ngặt của kẻ thù, qua rừng
rậm và hàng chục con sông chảy xiết vùng thượng nguồn, trong
đó nguy hiểm nhất là vượt đường số 9 qua sông Ba Lòng lọt giữa 2
cao điểm 241 và cứ điểm Đầu Mầu.
Từ năm 1966, K53 được Trung ương Đoàn bàn giao cho Phân
khu Trị Tiên - Huế, phụ trách tuyến từ Nam Bến Hải đến Bắc
Đường 9 và bến đò qua sông Ba Lòng. Các đội viên gùi cõng hàng
gồm vũ khí, đạn dược, gạo muối, thuốc men, xăng dầu, kết hợp
giao liên đưa đón cán bộ, thương binh.
Từ cuối năm 1967, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh, điều ra
Trị Tiên - Huế các đơn vị sừng sỏ “Sư đoàn Anh cả đỏ”, “Mũ nồixanh”, “Lữ đoàn trâu điên”… lập hàng rào điện tử Mac Namara,
thả các loại “Cây nhiệt đới”, các loại bom lá, bom bướm trên khắp
các tuyến đường, rải chất độc làm trụi lá. Những con đường hầu
như bị lộ, nên TNXP vừa phải mở đường mới, nguỵ trang đường,
kho bãi và bắt đầu vừa vận tải vừa đánh địch, bảo vệ người, hàng,
kho trạm.
Từ sau Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Tân năm 1968, hai
Đại đội 10, 11 của K53 được Quân khu phân làm lực lượng chủ
công để soi, mở những con đường mới và lập các binh trạm sâu
dần xuống đồng bằng chuyển vũ khí, lương thực, thuốc men cho
các đơn vị chủ lực, nhiều đội viên đã gia nhập Quân giải phóng
miền Nam.
10 năm ở chiến trường, K53 có 111 liệt sĩ hy sinh anh dũng,
hiện còn 107 hài cốt vẫn nằm lại trên đất Trị Tiên - Huế. Còn hầu
hết các cựu đội viên đều là thương binh, bệnh binh hoặc mang
trên mình những di tích của chiến tranh. Nhiều con cháu họ đã
trực tiếp gánh chịu hậu quả của chất độc da cam đioxin.
K53 đã được nhận nhiều Huân huy chương các loại, Lá cờ đầu
ngành Hậu cần Quân khu Trị Tiên “Anh dũng kiên cường, mở
đường bám trụ” nhiều năm liền. Và đặc biệt là danh hiệu Anh
hùng Lực lượng vũ trang nhân dân theo Quyết định số 211/QĐ-
CTN ngày 22/02/2010./.



