ĐOM ĐÓM VẪN BAY VỀ NÚI
Đom đóm vẫn bay về núi là câu chuyện hồi ức xúc động về bà Hà Thị Nhuận – một nữ thanh niên xung phong ở ATK Định Hóa trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Qua những lời kể mộc mạc của bà, tác phẩm tái hiện vẻ đẹp bình dị mà phi thường của một thế hệ đã âm thầm cống hiến, hy sinh vì độc lập dân tộc, đồng thời gửi gắm thông điệp về lòng biết ơn và niềm tự hào đối với những con người đã làm nên lịch sử.
ĐOM ĐÓM VẪN BAY VỀ NÚI
Có những con người khi còn sống, ta cứ ngỡ họ sẽ ở bên mình mãi như ngọn núi sau nhà, như dòng suối đầu bản, như tiếng gà gáy mỗi sớm mai. Chỉ đến khi họ đi xa, ta mới nhận ra mình đã lớn lên từ những câu chuyện họ kể.
Bà ngoại tôi là một người như thế.
Bà tên Hà Thị Nhuận, sinh năm 1933, quê ở làng Phẩy, xã Sơn Phú, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên cũ. Bà mất vào một ngày cuối năm 2018, lặng lẽ như chiếc lá rừng khẽ rời cành sau một mùa gió. Nhưng có những điều tưởng như đã theo bà về với đất mẹ, hóa ra vẫn còn ở lại. Chúng nằm trong tiếng gió luồn qua rặng cọ, trong mùi khói bếp những chiều đông, trong con đường đất đỏ dẫn về ngôi nhà sàn cũ, và trong ký ức của một đứa cháu từng say mê nghe bà kể chuyện.
Thuở nhỏ, tôi luôn thích những đêm hè ngồi hóng mát bên ngoài hiên, lặng ngắm đàn đom đom đóm lập loè trong bóng tối, cùng với tiếng côn trùng vọng từ núi rừng, bà bắt đầu mở cánh cửa của quá khứ.
Bà không kể chuyện cổ tích. Trong những câu chuyện của bà không có ông Bụt, không có nàng tiên, cũng chẳng có phép màu nào cả. Chỉ có những cánh rừng Định Hóa xanh thẳm, những con đường mòn in dấu chân dân công, những mái nhà lặng lẽ che chở cán bộ, và những con người bình dị đã sống những năm tháng mà mỗi ngày trôi qua đều là một trang sử.
Có lần, bà nhìn về phía những dãy núi mờ trong chiều muộn rồi khẽ nói: "Hồi Bác Hồ về ATK Định Hóa ấy mà..."
Thuở ấy, núi rừng quê ngoại không chỉ ôm ấp mây ngàn, mà còn ôm trong lòng vận mệnh của cả một dân tộc. Và cũng từ những câu chuyện giản dị ấy, tôi biết rằng bà ngoại mình đã từng sống một tuổi xuân đẹp đến lạ, một tuổi xuân không được đo bằng những mùa hoa nở, mà bằng những mùa kháng chiến, bằng những chuyến gùi lương thực, những thửa ruộng xanh giữa bom đạn và những lần lặng lẽ chờ người chồng khoác súng trở về trên lưng chú ngựa nâu hồng.
Bà bảo những năm từ 1947 đến 1954, núi rừng Định Hóa không còn chỉ có tiếng chim. Đó là những năm tháng cả vùng quê nhỏ trở thành mái nhà của cách mạng. Những con đường đất vốn chỉ có dấu chân người đi rừng, bỗng ngày ngày in thêm dấu chân cán bộ, bộ đội và đồng bào gùi gạo, gánh muối.
Bà kể rằng ai cũng có việc của mình. Người biết rèn thì rèn dao. Người biết đan thì đan gùi. Người khỏe thì đi dân công. Người già ở nhà trông trẻ, giữ bí mật. Đứa trẻ nào cũng học cách im lặng khi cần. Ngày ấy, chẳng ai nghĩ mình đang làm điều gì lớn lao. Chỉ đơn giản là đất nước cần thì mình góp một bàn tay.
Lúc ấy, ông ngoại tôi - ông Ma Khắc Trọng - đang làm nhiệm vụ cận vệ cho đồng chí Trường Chinh. Bà hiếm khi kể về những trận đánh hay những công việc ông làm. Điều bà nhớ nhất lại là những lần ông về. "Ông ấy cưỡi con ngựa nâu hồng..." Mỗi lần kể đến đó, mắt bà lại ánh lên một niềm vui rất lạ. Con ngựa từ đầu dốc đã quen đường về nhà. Nghe tiếng vó ngựa lộc cộc trên con đường đá, bà biết ông đã về. Ông mặc bộ quần áo đã bạc màu vì mưa nắng. Bên hông lúc nào cũng dắt một con dao găm. Tôi từng hỏi: "Bà có sợ không?"
Bà cười hiền: "Sợ gì. Hồi ấy nhìn thấy dao là biết người mình bình an trở về." Đó là câu trả lời mà mãi sau này lớn lên tôi mới hiểu.
Ông về rất ít, có hôm chỉ kịp ăn bữa cơm với bát rau rừng, bát măng luộc rồi lại đi ngay. Bà không giữ ông ở lại. Ông cũng chẳng hứa ngày về. Hình như thời chiến, người ta yêu nhau bằng những cái nhìn nhiều hơn những lời nói. Những lần ông lên đường, ngôi nhà nhỏ chỉ còn lại bà với mẹ già, ruộng nương và nỗi nhớ. Nhưng nỗi nhớ không cho phép người ta ngồi yên. Đất nước đang trong những năm tháng gian nan nhất. Ở làng Phẩy, hầu như thanh niên trai tráng đều đã lên đường. Những người ở lại, dù là phụ nữ hay những cô gái mới lớn, cũng chẳng ai nghĩ mình chỉ là người đứng sau cuộc chiến.
Bà bảo, năm ấy bà vừa tròn mười bảy tuổi. Tuổi mười bảy của những cô gái bây giờ thường gắn với tà áo trắng, với những trang lưu bút và những ước mơ còn thơm mùi giấy mới. Còn tuổi mười bảy của bà bắt đầu bằng chiếc gùi mây trên lưng và đôi dép lốp mòn vẹt vì những con đường rừng. Một buổi sáng, khi sương còn phủ kín những sườn núi Định Hóa, bà cùng mấy chị em trong làng khăn gói theo đội thanh niên xung phong của địa phương. Không có tiếng trống xuất quân, không có cờ hoa rực rỡ. Chỉ có lời dặn của các cụ già: "Đi mạnh giỏi nhé các con. Ráng giữ gìn sức khỏe để còn trở về." Bà kể, ai cũng cười rất tươi. Có lẽ vì còn quá trẻ hoặc cũng có lẽ vì chưa ai biết phía trước sẽ là những tháng ngày gian khó đến nhường nào.
Công việc của bà và đồng đội là vận chuyển lương thực, thuốc men, tài liệu và nhiều khi cả đạn dược đến những nơi bộ đội đang làm nhiệm vụ. Có những chuyến đi chỉ vài cây số. Nhưng cũng có chuyến phải băng qua hết quả đồi này đến con suối khác, men theo những lối mòn chỉ vừa đủ một người bước. Gùi trên lưng có khi nặng hơn nửa trọng lượng cơ thể. Mỗi bước chân như kéo theo cả một quả núi vậy mà chẳng ai bỏ cuộc. Bà cười bảo: "Hồi ấy chỉ nghĩ gùi này đến nơi thì các chú bộ đội có cơm ăn. Thế là khỏe ngay." Tôi vẫn nhớ lúc bà nói câu ấy, giọng bà nhẹ như kể chuyện hái măng trên rừng. Có lẽ những người thuộc thế hệ ấy đều như vậy. Họ luôn kể về gian khó bằng những nụ cười. Có lần đoàn của bà đi suốt từ lúc trời chưa sáng. Đến giữa trưa thì gặp một cơn mưa rừng. Mưa ở Định Hóa không ào ào như dưới đồng bằng. Nó lặng lẽ nhưng dai dẳng, đủ để con đường đất đỏ biến thành bùn nhão. Mỗi bước chân nhấc lên lại nặng thêm một lớp đất bám vào dép. Có chị trượt ngã bao gạo lăn xuống sườn dốc, mọi người chẳng ai bảo ai, cùng chạy đến nhặt từng hạt gạo còn sót lại, hong khô rồi chia đều vào các gùi khác. Bà nói: "Hồi ấy quý từng hạt gạo lắm, đó đâu chỉ là cơm, đó còn là sức của người lính." Có những đêm cả đội phải nghỉ lại giữa rừng. Không dám nhóm lửa lớn vì sợ lộ vị trí. Mỗi người ôm chiếc áo chàm cuộn tròn làm gối ngửa mặt nhìn bầu trời đầy sao. Có chị khe khẽ hát, tiếng hát nhỏ đến mức tưởng như chỉ đủ cho gió nghe. Nhưng bà bảo, chính những câu hát ấy đã giúp mọi người quên đi cái lạnh, quên đi đôi vai đang rát bỏng vì quai gùi, rồi sáng hôm sau lại lên đường.
Cứ thế, ngày nối ngày đôi vai cô gái Hà Thị Nhuận dần hằn lên những vết chai đôi bàn chân quen với đá sắc làn da rám nắng nhưng ánh mắt thì vẫn trong veo như dòng suối đầu nguồn.
Điều khiến tôi xúc động nhất là bà chưa bao giờ kể mình đã lập được thành tích gì. bà chỉ kể về đồng đội, kể chị Lý ở đầu bản luôn nhường phần cơm cho người yếu hơn. Kể anh liên lạc bị sốt rét vẫn cố mang công văn đến đúng giờ. Kể những người bạn cùng tuổi đã nằm lại đâu đó giữa núi rừng mà đến tận sau này cũng không ai biết chính xác nơi yên nghỉ. Mỗi lần nhắc đến họ, bà đều lặng đi rất lâu rồi khẽ nói: "Họ còn trẻ lắm..."
Tôi nhìn bà bỗng nhận ra lúc ấy bà cũng chỉ là một cô gái trẻ. Chiến tranh đã lấy đi tuổi xuân của biết bao người. Nhưng cũng chính chiến tranh đã dạy họ biết yêu thương nhau bằng những điều giản dị nhất. Năm tháng trôi qua đất nước hòa bình. Những chiếc gùi mây được cất lên gác bếp. Con đường dân công năm nào dần phủ kín cỏ xanh. Nhưng trong ký ức bà, mỗi con dốc, mỗi khúc suối, mỗi gốc cây nơi bà từng dừng chân nghỉ vẫn còn nguyên như mới hôm qua. Có lần tôi hỏi: "Nếu được sống lại tuổi trẻ, bà có chọn con đường ấy nữa không?" Bà nhìn tôi, ánh mắt hiền như mặt nước hồ sau cơn mưa. Bà cười, không một chút đắn đo. "Có chứ! Bởi nếu ngày ấy ai cũng sợ gian khổ thì làm gì có ngày hôm nay để con được ngồi đây nghe bà kể chuyện." Nói rồi bà lại nhai miếng trầu đã nhạt vị. Ngoài sân, đom đóm vẫn lập lòe bay. Tôi bỗng thấy những đốm sáng nhỏ bé ấy giống hệt bà và những người đồng đội năm xưa. Họ không phải mặt trời để rực rỡ giữa bầu trời. Họ chỉ là những ánh sáng rất nhỏ. Nhưng chính vô vàn ánh sáng nhỏ ấy đã cùng nhau thắp lên bình minh cho một đất nước.
Hình ảnh bà Hà Thị Nhuận
Bây giờ bà đã đi xa. Con ngựa nâu hồng chỉ còn trong lời kể. Con dao găm năm nào, hay những buổi dầm mưa “chuyển lương” cũng chỉ còn trong ký ức. Nhưng mỗi lần trở về làng Phẩy, đứng giữa núi rừng Sơn Phú, nghe gió thổi qua những triền đồi, tôi vẫn có cảm giác như đâu đây còn vang tiếng vó ngựa của một người lính năm xưa đang trở về sau chuyến công tác dài. Tôi chợt hiểu, điều quý giá nhất bà để lại cho con cháu không phải là những kỷ vật. Mà là niềm tự hào được sinh ra từ một thế hệ bình dị. Những con người chưa từng nghĩ mình làm nên lịch sử, nhưng chính họ đã lặng lẽ viết nên lịch sử bằng mồ hôi, bằng lòng son sắt và bằng tình yêu Tổ quốc. Và mỗi khi nhớ về bà, tôi lại nghe như có tiếng bà thủ thỉ bên tai: "Đất nước mình đẹp lắm con ạ. Đẹp vì có những người bình thường, đã sống những năm tháng phi thường."


