Khác

ĐỒNG CHÍ HỒ TÙNG MẬU - NGƯỜI CỘNG SẢN KIÊN TRUNG, TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC MẪU MỰC

Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX, dưới ách “chinh phục” và khai thác thuộc địa triệt để của thực dân Pháp, đã chuyển biến xã hội thành thuộc địa nửa phong kiến. Trong bối cảnh đó, các phong trào yêu nước cũng dần chuyển từ khuynh hướng phong kiến sang khuynh hướng dân chủ tư sản và vô sản. Đây đồng thời là giai đoạn bùng nổ của những trào lưu và tư tưởng mới, gắn liền với sự xuất hiện của một thế hệ mới - các nhà dân tộc chủ nghĩa, những người kế tục truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm; đồng thời, tìm kiếm con đường cách mạng mới nhằm khôi phục sức mạnh và giành lại độc lập cho dân tộc. Một trong những người có tầm ảnh hưởng lớn trong lịch sử cách mạng lúc bấy giờ đó là đồng chí Hồ Tùng Mậu, tên khai sinh là Hồ Bá Cự. Ông sinh ngày 15/6/1896 trong một gia tộc thuộc “danh gia vọng tộc” của làng khoa bảng Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu, Nghệ An), cũng là gia tộc đời nối đời tham gia chống thực dân Pháp

Nghệ An18/08/2026Đoàn xã Hàm Kiệm (Hàm Kiệm)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

ĐỒNG CHÍ HỒ TÙNG MẬU - NGƯỜI CỘNG SẢN KIÊN TRUNG, TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC MẪU MỰC

ĐỒNG CHÍ HỒ TÙNG MẬU - NGƯỜI CỘNG SẢN KIÊN TRUNG, TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC MẪU MỰC

Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX, dưới ách “chinh phục” và khai thác thuộc địa triệt để của thực dân Pháp, đã chuyển biến xã hội thành thuộc địa nửa phong kiến. Trong bối cảnh đó, các phong trào yêu nước cũng dần chuyển từ khuynh hướng phong kiến sang khuynh hướng dân chủ tư sản và vô sản. Đây đồng thời là giai đoạn bùng nổ của những trào lưu và tư tưởng mới, gắn liền với sự xuất hiện của một thế hệ mới - các nhà dân tộc chủ nghĩa, những người kế tục truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm; đồng thời, tìm kiếm con đường cách mạng mới nhằm khôi phục sức mạnh và giành lại độc lập cho dân tộc. Một trong những người có tầm ảnh hưởng lớn trong lịch sử cách mạng lúc bấy giờ đó là đồng chí Hồ Tùng Mậu, tên khai sinh là Hồ Bá Cự. Ông sinh ngày 15/6/1896 trong một gia tộc thuộc “danh gia vọng tộc” của làng khoa bảng Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu, Nghệ An), cũng là gia tộc đời nối đời tham gia chống thực dân Pháp. Ông nội là Án sát Hồ Bá Ôn, bị tử thương khi chỉ huy bảo vệ thành Nam Định. Cha là Hồ Bá Kiện, đã hy sinh trong chiến đấu khi lãnh đạo tù nhân phá nhà ngục Lao Bảo. Được nuôi dưỡng bởi truyền thống yêu nước của gia đình, quê hương và dân tộc, chứng kiến nỗi đau của người dân mất nước. Đồng chí Hồ Tùng Mậu đã sớm hình thành tinh thần yêu nước, thương dân sâu sắc, lòng căm thù giặc và ý chí quyết tâm cứu dân, cứu nước. Chính điều đó đã thôi thúc đồng chí tích cực tham gia hoạt động yêu nước khi tuổi đời còn rất trẻ. Từ người yêu nước chân chính trở thành người cộng sản kiên trung Cùng với những tư tưởng mới về con đường giành độc lập dân tộc, đi ra nước ngoài để tìm kiếm chân lý cách mạng. Năm 1919, với bí danh Hồ Tùng Mậu, đồng chí cùng các nhà yêu nước Lê Hồng Sơn, Ngô Chính Học, Nguyễn Thị Tích, Đặng Quỳnh Anh, do Đặng Xuân Thanh dẫn đường, bí mật xuất dương sang Lào, rồi sang Xiêm (Thái Lan) hoạt động. Đến tháng 7/1920, đồng chí Hồ Tùng Mậu cùng đồng chí Lê Hồng Sơn, được cụ Đặng Thúc Hứa bố trí vượt biển sang Quảng Châu, Trung Quốc. Năm 1923, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Lê Hồng Phong nhóm họp, lập ra Tâm Tâm xã (tức Tân Việt Thanh niên Đoàn) - một tổ chức của những thanh niên yêu nước Việt Nam mang tư tưởng phục quốc, hoạt động chính trị với mục đích giành độc lập cho Việt Nam thoát khỏi chế độ thực dân Pháp. Tại Quảng Châu, lần đầu tiên Hồ Tùng Mậu được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, nhận thấy Hồ Tùng Mậu là một người hăng hái, có ý chí nên Nguyễn Ái Quốc đã đào tạo, huấn luyện chính trị và kết nạp Hồ Tùng Mậu vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và Cộng sản Đoàn. Tháng 3/1926, Nguyễn Ái Quốc giới thiệu Hồ Tùng Mậu gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trong các năm 1927-1928, đồng chí bị chính quyền Quốc dân Đảng Trung Hoa bắt giam 4 lần. Đến tháng 11/1929, sau khi ra tù, từ Quảng Châu, Hồ Tùng Mậu đến Hồng Kông và gia nhập Chi bộ Hải ngoại của An Nam Cộng sản Đảng. Đầu năm 1930, đồng chí Hồ Tùng Mậu tham gia Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (tại Hương Cảng) với tư cách cán bộ lãnh đạo ở hải ngoại của Đảng. Đây cũng là dấu mốc đánh dấu sự chuyển biến chính thức của Hồ Tùng Mậu từ người yêu nước chân chính trở thành người cộng sản. Sau hội nghị, đồng chí ở lại Hồng Kông một thời gian để tiếp tục làm công tác huấn luyện chính trị cho cán bộ trong điều kiện không có mặt Nguyễn Ái Quốc và đã giúp đỡ rất nhiều cho các nhà cách mạng Việt Nam lúc ấy đang ở Hồng Kông. Tháng 6/1931, đồng chí Hồ Tùng Mậu bị mật thám Pháp bắt khi vừa đặt chân đến Thượng Hải; tiếp đó đồng chí bị tuyên án tử hình tại phiên tòa ngày 6/12/1931 ở Nghệ An; sau đó, chúng giảm xuống thành án chung thân khổ sai. Đồng chí bị giam tại các nhà lao: Vinh, Lao Bảo, nhà đày Kon Tum, Buôn Ma Thuột, ngục Trà Khê. Đến đầu tháng 3/1945, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương, Hồ Tùng Mậu cùng các tù nhân chính trị vượt ngục Trà Khê, trở về quê nhà tiếp tục hoạt động cách mạng tại Quỳnh Lưu, Nghệ An. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Hồ Tùng Mậu được lãnh tụ Hồ Chí Minh - Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa mời ra Hà Nội đảm nhận nhiều nhiệm vụ trọng trách của Đảng và Chính phủ giao phó. Ngày 18/12/1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh thành lập Ban Thanh tra Chính phủ và cử Hồ Tùng Mậu giữ chức vụ Tổng Thanh tra. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai Đảng Cộng sản Đông Dương, đồng chí được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ngày 23/7/1951, trên đường đi công tác tại Liên khu IV, đồng chí đã bị máy bay địch phát hiện, đuổi bắn và hy sinh.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn