Bài viết

Đồng chí Hồ Tùng Mậu: sáng tinh thần yêu nước, vững khí tiết người cộng sản

Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, Hồ Tùng Mậu là một trong những người chiến sĩ cộng sản tiêu biểu, có nhiều đóng góp to lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng Đảng. Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí là tấm gương sáng về lòng yêu nước, ý chí kiên cường và tinh thần cống hiến trọn đời cho Tổ quốc.

Nghệ An11/08/2026Xã Anh Sơn (Đoàn xã Anh Sơn)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chí hướng và cốt cách của người chiến sĩ ấy vốn được nuôi dưỡng từ một vùng đất địa linh nhân kiệt. Đồng chí Hồ Tùng Mậu, tên khai sinh là Hồ Bá Cự, sinh ngày 15 tháng 6 năm 1896 tại làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, nay là xã Quỳnh Anh, tỉnh Nghệ An. Đây là vùng quê giàu truyền thống văn hóa, yêu nước và cách mạng, nơi sản sinh ra những bậc tiền bối lưu danh sử sách. Không chỉ chịu ảnh hưởng từ quê hương, tinh thần bất khuất của ông còn được thừa hưởng trực tiếp từ truyền thống gia đình. Ông nội của ông là Phó bảng Hồ Bá Ôn, làm quan đến chức Án sát tỉnh Nam Định và đã anh dũng hy sinh khi đang trực tiếp chỉ huy giữ thành chống thực dân Pháp xâm lược vào năm 1883. Người cha thân yêu của ông là Cử nhân Hồ Bá Kiện, người đã từ khước chốn quan trường để tham gia phong trào Văn thân, sau đó bị thực dân Pháp bắt giam và bắn chết khi lãnh đạo cuộc khởi nghĩa phá ngục tại Nhà tù Lao Bảo.

Sinh ra và lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, ông sớm nung nấu ý chí cứu nước và ra nước ngoài hoạt động từ năm 1920. Tại Trung Quốc, ông tham gia thành lập Tâm Tâm xã (1923), rồi được Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp rào tạo, kết nạp vào Cộng sản Đoàn – hạt nhân thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Trong suốt thời gian ở Quảng Châu, ông là người cộng sự tin cậy, hỗ trợ Bác Hồ tổ chức các lớp huấn luyện chính trị, làm báo Thanh niên và sau đó đảm nhiệm vai trò thư ký tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào mùa xuân năm 1930.

Bản lĩnh sắt đá của Hồ Tùng Mậu được thử thách qua 14 năm bị giam cầm trong các nhà tù khắc nghiệt của thực dân Pháp. Khi Bác Hồ bị bắt tại Hồng Kông năm 1931, chính ông đã mưu trí liên hệ với Luật sư Loseby để giải cứu Người. Sau đó, bản thân ông bị bắt giải về nước và chịu án tù chung thân. Trải qua các "địa ngục trần gian" như Hỏa Lò, Kon Tum, Buôn Ma Thuột, ông vẫn giữ trọn khí tiết, biến nhà tù thành trường học lý luận và làm trung tâm đoàn kết anh em tù chính trị.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, tài năng của Hồ Tùng Mậu tiếp tục tỏa sáng trên nhiều trọng trách lớn: từ làm Chính ủy Trường Quân chính đào tạo cán bộ Vệ quốc đoàn, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính Liên khu IV, cho đến khi trở thành Tổng Thanh tra Chính phủ đầu tiên vào năm 1949. Ông đã đặt những viên gạch nền móng cho ngành Thanh tra Việt Nam, trực tiếp chỉ đạo xử lý nghiêm minh các vụ án tham ô lớn (như vụ Trần Dụ Châu), góp phần làm trong sạch bộ máy nhà nước. Đầu năm 1951, ông vinh dự được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội II.

Ngày 23/7/1951, trên đường vào Liên khu IV công tác, đồng chí Hồ Tùng Mậu đã anh dũng hy sinh sau một đợt oanh tạc của máy bay địch tại Thanh Hóa, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho toàn Đảng, toàn dân. Trọn đời cống hiến cho độc lập, tự do của dân tộc, ông được Nhà nước truy tặng Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, trở thành biểu tượng cao đẹp về đức tính "Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư" cho các thế hệ mai sau noi theo.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn