Đồng chí Lê Duẩn với việc hoạch định đường lối cách mạng XHCN ở Việt Nam (Phần 2 và hết) (1)
Đồng chí Lê Duẩn trong Báo cáo chính trị trình bày trước đại hội đã nêu lên đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là: “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động; tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: Cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hoá mới, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa; xoá bỏ chế độ người bóc lột người, xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu; không ngừng đề cao cảnh giác, thường xuyên củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự xã hội; xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội”(9).

Đồng chí Lê Duẩn tại Lễ ký kết hợp tác thăm dò và khai thác dầu khí giữa Việt Nam – Liên Xô, năm 1980. (Ảnh tư liệu)
Đường lối xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa là: “Đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp; vừa xây dựng kinh tế trung ương vừa phát triển kinh tế địa phương trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất; kết hợp phát triển lực lượng sản xuất với xác lập và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới; kết hợp kinh tế với quốc phòng; tăng cường quan hệ phân công, hợp tác, tương trợ với các nước xã hội chủ nghĩa anh em trên cơ sở chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa, đồng thời phát triển quan hệ kinh tế với các nước khác trên cơ sở giữ vững độc lập, chủ quyền và các bên cùng có lợi; làm cho nước Việt Nam trở thành một nước xã hội chủ nghĩa có kinh tế công - nông nghiệp hiện đại, văn hoá và khoa học, kỹ thuật tiên tiến, quốc phòng vững mạnh, có đời sống văn minh, hạnh phúc”(10).

Đồng chí Lê Duẩn thăm cảng Đà Nẵng, tháng 8-1981. (Ảnh tư liệu)
Đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được hoạch định từ Đại hội III của Đảng (9-1960) và phát triển hoàn chỉnh ở Đại hội IV (12-1976) gắn liền với sự đóng góp quan trọng của đồng chí Lê Duẩn. Đường lối đó đã đặt ra nội dung và phương hướng cơ bản, những nhiệm vụ chủ yếu cần phải thực hiện trong thời kỳ quá độ để đưa nước ta bỏ qua chủ nghĩa tư bản phát triển thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa. Nội dung tiến hành đồng thời 3 cuộc cách mạng trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt, theo đồng chí Lê Duẩn, được tiến hành trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Những nội dung của 3 cuộc cách mạng mang giá trị khoa học vì đã đặt ra những vấn đề có tính quy luật của cách mạng xã hội chủ nghĩa phù hợp với đặc điểm Việt Nam: đã hướng vào xây dựng lực lượng sản xuất mới và quan hệ sản xuất mới; xây dựng cơ sở kinh tế mới và củng cố kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa; xoá bỏ chế độ người bóc lột người và thực hiện những vấn đề căn bản về giải phóng xã hội; xây dựng nền văn hoá và con người mới xã hội chủ nghĩa; thực hiện chủ nghĩa quốc tế vô sản và chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý điều hành của Nhà nước.

Đồng chí Lê Duẩn tại công trình xây dựng nhà máy Thủy điện Trị An, ngày 20-2-1985. (Ảnh tư liệu)
Tuy nhiên, khi tổ chức thực hiện đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa đã bị chi phối bởi tư tưởng chủ quan, duy ý chí, nóng vội dẫn tới những sai lầm, khuyết điểm. Có thể thấy rõ những sai lầm, khuyết điểm trên mấy vấn đề chủ yếu:
Một là, đã nhận thức và vận dụng chưa đúng quy luật khách quan về quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Trong khi lực lượng sản xuất còn lạc hậu và nhỏ bé song đã tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa một cách ồ ạt thành các chiến dịch nhằm ngay lập tức xác lập quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa. Làm việc đó với mong muốn dùng quan hệ sản xuất tiên tiến mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Trên thực tế quan hệ sản xuất đã không triệt để giải phóng và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Sau này, tại Đại hội VI Đảng ta đã nhận thức rõ sai lầm về sự vội vã xoá bỏ ngay các thành phần kinh tế gắn với sở hữu cá thể, tư nhân về tư liệu sản xuất chỉ phát triển thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa với hai hình thức quốc doanh và tập thể. “Theo quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa phải có bước đi và hình thức thích hợp. Kinh nghiệm thực tế chỉ rõ: lực lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất”(11). “Cuộc sống cho ta một bài học thấm thía là không thể nóng vội làm trái quy luật. Nay phải sửa lại cho đúng như sau: đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, với những hình thức và bước đi thích hợp, làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, luôn luôn có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất”(12). Ở đây cần nhận thức đúng luận điểm của Ăng ghen trong tác phẩm Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản năm 1847 rằng không thể ngay lập tức xoá bỏ chế độ tư hữu cũng như không thể ngay lập tức xây dựng được lực lượng sản xuất hiện đại. Lênin cũng nêu rõ một trong những đặc trưng của thời kỳ quá độ là sự tồn tại và phát triển của nhiều thành phần kinh tế gắn với các chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất.

Đồng chí Lê Duẩn thăm nhà máy Điện Việt - Hung, ngày 22-12-1985. (Ảnh tư liệu)
Hai là, lựa chọn và duy trì cơ chế quản lý và phân phối không thích hợp với đặc trưng, hoàn cảnh của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là cơ chế quản lý tập trung quan liêu, hành chính và bao cấp. Ba nội dung cơ bản trong quan hệ sản xuất mới đó là chế độ sở hữu tư liệu sản xuất, chế độ quản lý và chế độ phân phối có quan hệ mật thiết và chi phối lẫn nhau. Trong khi đặc biệt chú trọng xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất (sở hữu toàn dân và tập thể) thì đương nhiên chế độ quản lý không thể khác đó là kế hoạch hoá và tập trung cao độ trong tay Nhà nước không chú trọng đến vai trò của thị trường và kinh tế thị trường và do đó cũng không thể khác là bao cấp cả trong sản xuất và tiêu dùng. Cơ chế quản lý và phân phối đó đã ngày càng bộc lộ sự hạn chế, hiệu quả thấp, không tạo ra động lực cho sự phát triển lực lượng sản xuất và quá trình sản xuất. Vì vậy, sản xuất ngày càng sút kém dẫn tới khủng hoảng kinh tế - xã hội. Cơ chế kế hoạch hoá, tập trung và quản lý hành chính, bao cấp cũng có vai trò nhất định trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể, nhất là trong điều kiện kháng chiến. Thực tiễn đòi hỏi phải đa dạng hoá các hình thức sở hữu với chính sách kinh tế nhiều thành phần, phải kết hợp đúng đắn kế hoạch với thị trường, đa dạng hoá các loại thị trường, và do đó giải quyết đúng đắn vấn đề lợi ích và thật sự phân phối theo lao động. Phải sửa chữa, điều chỉnh đồng bộ các yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất.

Đồng chí Lê Duẩn thăm Bệnh viện Nhi Trung ương, năm 1981. (Ảnh tư liệu)
Ba là, đã nóng vội trong nhận thức và thực hiện các chặng đường, bước đi của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Năm 1970 đồng chí Lê Duẩn nêu ra khái niệm bước đi ban đầu của thời kỳ quá độ là rất phù hợp. Đại hội VI của Đảng (12-1976) với mong muốn đi nhanh chỉ vài ba kế hoạch 5 năm là kết thúc thời kỳ quá độ, là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, nên nội dung của bước đi ban đầu đã không được đề cập. Tại Đại hội V của Đảng (3-1982), đồng chí Lê Duẩn nêu ra khái niệm Chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ với xây dựng những tiền đề để chính trị, kinh tế, xã hội cần thiết. Đẩy nhanh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trên quy mô lớn. Đó chính là sự trở lại quan điểm đúng đắn và khoa học về bước đi ban đầu. Nội dung của chặng đường đầu tiên sau đó được Đại hội VI, VII của Đảng khẳng định và Đại hội VIII (6-1996) kết luận nước ta đã hoàn thành những nhiệm vụ cơ bản đặt ra cho chặng đường đầu tiên. Chặng đường đầu tiên là một bước qúa độ nhỏ trong bước quá độ lớn. Lênin cho rằng, trong suốt thời kỳ quá độ “trong chính sách của chúng ta, lại chia ra thành nhiều bước quá độ nhỏ hơn nữa. Và tất cả cái khó khăn của nhiệm vụ chúng ta phải làm, tất cả cái khó khăn của chính sách và tất cả sự khéo léo của chính sách là ở chỗ biết tính đến những nhiệm vụ đặc thù của từng bước quá độ đó”(13).

Đồng chí Lê Duẩn nói chuyện với cán bộ ngành văn hóa nghệ thuật nhân kỷ niệm 30 năm ngày thành lập ngành, ngày 9-8-1985. (Ảnh tư liệu)
Quá trình điều chỉnh, sửa chữa những khuyết điểm trong thực hiện đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa trong những năm 1976-1986 cũng chính là quá trình tìm tòi, khảo nghiệm thực tiễn để đi đến xác định đường lối đổi mới tại Đại hội VI của Đảng (12-1986). Đường lối đổi mới được thực hiện gần 30 năm qua là sự kế thừa, điều chỉnh đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa trước đây cho phù hợp với thực tiễn của thời kỳ quá độ ở Việt Nam và sự phát triển trong tư duy lý luận, nhận thức về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn.
PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc(Tường Khanh giới thiệu)



