Đồng chí Lê Đức Thọ: Khái lược tiểu sử và quá trình cách mạng
Nhân kỷ niệm 110 năm ngày sinh đồng chí Lê Đức Thọ (10/10/1911 – 10/10/2021), Website ĐHQGHN trân trọng giới thiệu khái lược tiểu sử và quá trình cách mạng của đồng chí Lê Đức Thọ – một trong những đồng chí lãnh đạo có công lao lớn trong sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.
"Đồng chí Lê Đức Thọ, tên chính là Phan Đình Khải sinh ngày 10/10/1911 tại xã Địch Lễ, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, nay là xã Nam Vân, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
Đồng chí hoạt động cách mạng từ năm 1926, tham gia phong trào bãi khóa và lễ truy điệu nhà chí sỹ yêu nước Phan Chu Trinh. Năm 1928, hoạt động trong Học sinh Hội, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh Đảng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên Nam Định.
Tháng 10/1929, Đồng chí được kết nạp vào Đông Dương Cộng sản Đảng, làm Bí thư chi bộ học sinh và phụ trách công tác thanh niên học sinh. Tháng 11/1930, bị thực dân Pháp bắt, kết án 10 năm tù khổ sai, đày ra Côn Đảo, được cấp ủy chi bộ nhà tù Côn Đảo cử làm Bí thư chi bộ và Thường vụ chi ủy nhà tù.
Năm 1936 – 1939, Đồng chí ra tù và được giao phụ trách công tác báo chí công khai của đảng bộ và xây dựng cơ sở bí mật của Đảng ở Nam Định.
Từ năm 1939 – 1944, Đồng chí bị địch bắt và kết án tù 5 năm tại các nhà tù Hà Nội, Sơn La và Hòa Bình. Tháng 9/1944, ra tù được Trung ương Đảng giao phụ trách công tác khu an toàn của Trung ương, công tác tổ chức và huấn luyện cán bộ.
Tháng 10/1944, Đồng chí được chỉ định là ủy viên Trung ương Đảng và trực tiếp phụ trách Xứ ủy Bắc Kỳ; Đồng chí dự hội nghị mở rộng Ban Thường vụ Trung ương Đảng đêm 09/3/1945 để ra chủ trương mới phát động cao trào cách mạng đi tới cuộc Tổng khởi nghĩa.
Tháng 8/1945, tại Hội nghị cán bộ toàn quốc của Đảng ở Tân Trào, Đồng chí được cử vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, phụ trách công tác tổ chức của Đảng. Tháng 12/1946, dự Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định toàn quốc kháng chiến.
Năm 1948, thay mặt Trung ương Đảng tham gia Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ vào miền Nam công tác. Năm 1949, làm Phó Bí thư Xứ ủy Nam Bộ.
Năm 1951, tại Đại hội lần thứ II của Đảng, Đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, làm Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam. Từ năm 1949 – 1954, làm Trưởng ban Tổ chức Trung ương Cục miền Nam.
Năm 1955, Đồng chí tập kết ra Bắc, làm Trưởng ban Thống nhất Trung ương. Cuối năm 1955 được bổ sung vào Bộ Chính trị phụ trách công tác sửa sai trong cuộc vận động cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức.
Cuối năm 1956, Đồng chí làm Trưởng ban Tổ chức Trung ương; từ tháng 11/1956 đến năm 1961 kiêm Giám đốc Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương.
Năm 1960, tại Đại hội lần thứ III của Đảng, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Ban Bí thư, làm Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng. Năm 1966, kiêm Hiệu trưởng Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương. Năm 1967, được cử vào Quân ủy Trung ương.
Sau cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân năm 1968, đồng chí được Bộ Chính trị cử vào miền Nam làm Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam. Đến tháng 5/1968, được Bộ Chính trị gọi ra miền Bắc, giao nhiệm vụ phụ trách công tác đấu tranh ngoại giao, làm cố vấn đặc biệt của Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris bàn về lập lại hòa bình ở Việt Nam và trực tiếp đàm phán với đại diện của Chính phủ Mỹ trong các cuộc nói chuyện riêng giải quyết hòa bình về vấn đề Việt Nam. Sau Hiệp định Paris về Việt Nam (1973), đồng chí được cử làm Trưởng ban miền Nam của Trung ương.
Trước thời cơ chiến lược vừa được mở ra, cuối tháng 3/1975, Đồng chí vào chiến trường trực tiếp cùng Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam lãnh đạo, chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh giành toàn thắng.
Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất (30/4/1975), Đồng chí được phân công làm Phó ban đại diện của Đảng và Chính phủ ở miền Nam.
Tháng 12/1976, tại Đại hội lần thứ IV của Đảng, Đồng chí tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và làm Trưởng Ban Tổ chức Trung ương.
Giữa năm 1977 đến tháng 1/1979, Đồng chí được Bộ Chính trị phân công phụ trách công tác đặc biệt.
Năm 1980, đồng chí được cử làm Bí thư Thường trực và phụ trách công tác tổ chức; tháng 10/1980 kiêm Hiệu trưởng Trường Chính trị đặc biệt.
Tại Đại hội lần thứ V của Đảng (3/1982), Đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và làm Bí thư Thường trực, phụ trách công tác tư tưởng, nội chính, ngoại giao. Năm 1983, được chỉ định làm Phó Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng của Đảng.
Năm 1986, đồng chí làm Trưởng Tiểu ban nhân sự Đại hội lần thứ VI của Đảng và tại Đại hội (tháng 12-1986), Đồng chí được cử làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Với 64 năm hoạt động cách mạng liên tục, đồng chí Lê Đức Thọ đã đem tâm sức, tài năng và trí tuệ của mình cống hiến cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và nhân dân ta, là một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Tên tuổi và sự nghiệp của Đồng chí gắn liền với những giai đoạn của cách mạng Việt Nam, gắn liền với những thành quả cách mạng vĩ đại của dân tộc, là một trong những đồng chí lãnh đạo có nhiều cống hiến lớn cho sự nghiệp cách mạng, để lại cho đồng bào, đồng chí những tình cảm vô cùng quý mến. Đảng và Nhà nước ta đã trao tặng Đồng chí Huân chương Sao vàng và nhiều Huân chương cao quý khác; Đảng và Nhà nước Liên Xô tặng Huân chương Cách mạng Tháng Mười; Đảng và Nhà nước Campuchia tặng Huân chương Ăngco.
Cơn ""chấn động"" khi ông Lê Đức Thọ từ chối, Kissinger ""tự hào"" nhận Nobel Hòa bình - Time, New York Times nói gì?
Trong lịch sử Giải Nobel Hòa bình, chỉ có duy nhất một trường hợp từ chối nhận là ông Lê Đức Thọ trong khi ""đối thủ"" của ông Kissinger lại ""tự hào"" và vui vẻ nhận thưởng. Sự từ chối đã gây chấn động truyền thông quốc tế năm 1973 cùng không ít chỉ trích với ông Kissinger trên hai tờ báo lớn của nước Mỹ là Time, New York Times. Báo Quân đội nhân dân Điện tử xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc tư liệu về sự kiện này do phóng viên vừa lược dịch trên báo chí quốc tế.
Năm 1973, trên bàn thương lượng nhằm mang lại hòa bình thống nhất đất nước cho Việt Nam, ông Lê Đức Thọ đã có màn đấu trí cân não với cố vấn đặc biệt của Tổng thống Mỹ, tiến sĩ Henry Kissinger. Cùng năm đó, Giải Nobel hòa bình thế giới đã lựa chọn giữa ông Lê Đức Thọ và Kissinger… Cuối cùng Hội đồng chuyên gia của giải thưởng danh giá nhất thế giới này đã chọn cả hai. Thế nhưng, khi hai cái tên được vinh danh, chỉ có Kissinger bước lên bục danh dự.
“Coi chúng tôi cũng như Mỹ, điều đó là sai lầm, tôi không nhận Giải thưởng Nobel”
Việc này đã gây ra một cơn “chấn động” trước sự kiên quyết của Nhà ngoại giao lỗi lạc Lê Đức Thọ. Ngay lập tức, hàng loạt các trang báo lớn của thế giới đã đưa tin. Một bài viết trên tờ New York Times đăng ngày 24-10-1973 có tựa đề: “Tho Rejects Nobel Prize, Citing Vietnam Situation” (Lê Đức Thọ từ chối Giải Nobel Hòa Bình vì cục diện của Việt Nam).
Trong đó có nói ông Lê Đức Thọ đã từ chối nhận giải thưởng với lý do đơn giản: ""Hòa bình thực sự vẫn chưa được lặp lại và ông làm vì dân tộc của ông"".
Ông Lê Đức Thọ nói: ""Hòa bình chưa thực sự thiết lập ở miền Nam Việt Nam. Vì thế, tôi không thể nhận giải thưởng này"", New York Times trích lời.
Tôi chỉ có thể ""xem xét"" nhận giải thưởng khi Hiệp định Paris được tôn trọng, chiến tranh ngừng lại và hòa bình thực sự được thiết lập ở miền Nam Việt Nam"", New York Times dẫn lời Trưởng đoàn đàm phán của Hà Nội.
Tuy nhiên, sau đó, ông Lê Đức Thọ đã viết một bức thư giải thích về quyết định của mình gửi cho bà Aase Lionaes, Chủ tịch Ủy ban Giải thưởng Nobel của Quốc hội Na Uy năm đó. Trong bức thư không hề nhắc tới người đồng giải thưởng Nobel năm đó với ông Lê Đức Thọ là Kissinger.
Hành động của ông Lê Đức Thọ cho thấy quan điểm đanh thép của Việt Nam, cùng một lập trường nhất quán rằng Hiệp định Paris không phải một thỏa hiệp giữa hai bên mà là một chiến thắng trước Hoa Kỳ. Vì vậy, Việt Nam không thể hài lòng khi đứng chung bậc cùng với người đại diện cho phe mà họ đã đánh bại - Henrry Kissinger.
Cũng theo tạp chí TIME, việc ông Lê Đức Thọ từ chối nhận giải không phải chỉ là ""hòa bình"". Theo TIME, vào năm 1978, khi Anwar Sadat và Menachem Begin nhận giải gây tranh cãi, hòa bình lâu dài rõ ràng không phải là điều kiện tiên quyết. Những người chiến thắng trong quá khứ bao gồm “Aristide Briand và Gustav Stresemann, các chính khách Pháp và Đức đã giành giải thưởng năm 1926 cho các Hiệp ước hòa bình Locarno và “Nhà ngoại giao Mỹ Frank Kellogg, là người khởi xướng Hiệp ước Kellogg-Briand không tưởng năm 1928” đã minh chứng cho điều này.
Cũng trong bức thư ông Lê Đức Thọ trả lời phỏng vấn của nữ phóng viên hãng thông tấn Mỹ UPI Synvana Foa ngày 15-3-1985 mà thư ký của ông – Lưu Văn Lợi có ghi chép lại.
Trong đó, về sự kiện này, ông Lê Đức Thọ nói: ""Bây giờ tôi nói về Giải thưởng Nobel. Chúng tôi biết, Giải thưởng Nobel là một giải thưởng lớn với thế giới. Từ xưa đến nay có ý nghĩa hết sức quan trọng. Nhưng tại sao tôi không nhận? Tôi không phải có khó khăn như bà nói đâu. Chỉ một điều là ai làm cho hòa bình? Bà biết rằng đây là giải thưởng Nobel cho hòa bình”.
Mỹ tiến hành xâm lược đất nước tôi 20 năm. Người chống Mỹ và làm cho Mỹ thất bại, giành độc lập đưa hòa bình cho đất nước và cho cả khu vực này là chúng tôi. Người làm hòa bình là chúng tôi chứ không phải Mỹ.
Trong thư gửi Ủy ban Giải Nobel, tôi đã phân tích kỹ Mỹ tiến hành chiến tranh như thế nào? Nhưng Ủy ban Giải đã đặt ngang bằng kẻ xâm lược và người bị xâm lược, giữa kẻ gây chiến tranh và người tạo (làm) hòa bình. Coi chúng tôi cũng như Mỹ. Điều đó là sai lầm và tôi không thể chấp nhận như vậy. Vì vậy tôi đã không nhận Giải thưởng Nobel!”.
“Niềm vui” bên bờ đại dương
Đối lập với sự từ chối của ông Lê Đức Thọ, ông Kissinger đã tự hào nhận giải thưởng trị giá 510.000 USD vào năm 1973 như một bài đăng ngắn gọn trên tờ New York Times. “Ngoại trưởng Kissinger vẫn dự định đến Oslo vào ngày 12 tháng 12 để nhận giải Nobel Hòa bình”.
Tạp chí TIME danh tiếng của Mỹ có viết một bài ngày 25 tháng 10 năm 2015 đã viết quyết định của Ủy ban Nobel đã ""khơi dậy một cơn bão chỉ trích chưa từng có"".
""Chỉ có Nhà Trắng là vui vẻ thông báo về sự kiện này. Kissinger rất vui vẻ khi biết tin, trong khi Tổng thống Nixon thậm chí còn phát biểu cho rằng giải thưởng này là “sự tưởng thưởng xứng đáng cho nghệ thuật đàm phán của người Mỹ trong cuộc chấm dứt chiến tranh và mang lại hòa bình ở Việt Nam”, theo TIME.
Niềm vui đó không tồn tại được lâu vì truyền thông Mỹ hiển nhiên không đồng tình với Nixon và Kissinger. Tờ New York Times gọi giải thưởng Nobel năm đó là “Nobel vì Chiến tranh"". Tờ Washington thì cho rằng “người Na Uy thực sự rất có khiếu hài hước”.
Còn diễn viên hài nổi tiếng chuyên châm biếm chính trị Tom Lehrer thậm chí đã phát biểu: “Châm biếm chính trị đã trở nên lỗi thời kể từ khi Henry Kissinger được trao giải Nobel Hòa Bình’’.
Trong khi đó, một độc giả của TIME đã để lại bình luận rằng: “Việc trao giải Nobel Hòa bình cho Henry Kissinger và Lê Đức Thọ giống như trao cho Xaviera Hollander (Người đẹp vui vẻ) một giải thưởng cho đức tính cao cả”.
"



