Đồng chí Trần Cung – Sáu mươi lăm năm tuổi Đảng, một đời son sắt với Tổ quốc
Tham gia cách mạng từ năm 1949 khi mới 14 tuổi, đồng chí Trần Cung đã đi qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, cống hiến gần bốn thập kỷ trong quân đội và hơn sáu mươi lăm năm giữ trọn lời thề của người đảng viên. Cuộc đời đồng chí là biểu tượng của lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, tinh thần quả cảm của người chiến sĩ cách mạng và ý chí cống hiến không ngừng vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
Đồng chí Trần Cung – Sáu mươi lăm năm tuổi Đảng, một đời son sắt với Tổ quốc
Có những con người mà cuộc đời họ chính là một phần của lịch sử. Mỗi chặng đường họ đi qua đều gắn với những dấu mốc quan trọng của dân tộc. Đồng chí Trần Cung là một người như thế. Cuộc đời gần một thế kỷ của đồng chí không chỉ là hành trình của một người chiến sĩ cách mạng, mà còn là câu chuyện đẹp về lòng trung thành, sự hy sinh và niềm tin son sắt vào Đảng, vào con đường cách mạng mà Bác Hồ và dân tộc đã lựa chọn.
Đồng chí Trần Cung, sinh năm 1935, quê quán xã Cẩm Tân, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.
Tháng 01 năm 1949, khi mới mười bốn tuổi, trong lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang diễn ra quyết liệt ở Nam Bộ, đồng chí đã thoát ly gia đình tham gia cách mạng. Ở cái tuổi mà nhiều bạn bè còn được che chở trong vòng tay cha mẹ, đồng chí đã dũng cảm nhận nhiệm vụ tại đơn vị Thị xã Sóc Trăng, tham gia công tác diệt tề, trừ gian, góp phần bảo vệ cơ sở cách mạng.
Những năm tiếp theo, đồng chí lần lượt làm nhiệm vụ bảo vệ Tỉnh ủy Sóc Trăng, tham gia lực lượng Công an xung phong, công tác tại cơ quan dân quân và thực hiện nhiệm vụ áp tải hàng hóa từ nội thành về vùng giải phóng. Đó là những công việc vô cùng hiểm nguy, đòi hỏi lòng dũng cảm, sự mưu trí và tinh thần sẵn sàng hy sinh vì cách mạng.
Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, đồng chí tập kết ra Bắc, tiếp tục học tập và công tác. Từ những năm xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đồng chí vừa tham gia khắc phục hậu quả chiến tranh, vừa học tập tại Trường Trung cấp Kỹ thuật ở Hải Phòng để trở thành cán bộ kỹ thuật phục vụ quân đội.
Ngày 06 tháng 01 năm 1960, đồng chí vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam; đến ngày 06 tháng 10 năm 1960, trở thành đảng viên chính thức. Kể từ đó, lá cờ Đảng trở thành kim chỉ nam cho mọi hành động và quyết định trong suốt cuộc đời người chiến sĩ cách mạng.
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đồng chí đảm nhận nhiều nhiệm vụ quan trọng trong lĩnh vực kỹ thuật, quân giới và vận tải hậu cần. Từ mỏ Apatít Lào Cai đến Sư đoàn 338, rồi Đoàn 81, Đoàn 500 tại chiến trường Campuchia, Đoàn 235 và Đoàn 814, ở đâu có nhiệm vụ khó, ở đó có sự hiện diện của đồng chí.
Đồng chí từng phụ trách các đơn vị vận tải cơ giới, chỉ huy vận chuyển vũ khí, hàng hóa, phương tiện và bộ đội qua nhiều tuyến đường chiến lược, góp phần bảo đảm mạch máu hậu cần thông suốt cho các chiến trường. Trong chiến tranh, mỗi chuyến xe không chỉ chở hàng hóa mà còn chở theo niềm tin chiến thắng của cả dân tộc. Đằng sau những chiến công vang dội nơi tiền tuyến là sự hy sinh thầm lặng của những người làm công tác hậu cần như đồng chí Trần Cung.
Sau ngày đất nước thống nhất, đồng chí tiếp tục thực hiện nhiệm vụ trong quân đội. Trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nghĩa vụ quốc tế tại Campuchia, đồng chí giữ cương vị Thượng úy, Phó Phòng Xe máy thuộc Mặt trận 479, sau đó là Đại úy, chỉ huy công tác huấn luyện lái xe và trợ lý kỹ thuật của Cục Kỹ thuật 479.
Dù ở chiến trường ác liệt hay trong thời bình, đồng chí luôn giữ vững phẩm chất của Bộ đội Cụ Hồ: trung thành, kỷ luật, tận tụy và sẵn sàng nhận mọi nhiệm vụ được giao.
Tháng 02 năm 1986, sau gần bốn mươi năm cống hiến cho sự nghiệp cách mạng, đồng chí nghỉ hưu và trở về sinh hoạt tại Chi bộ ấp Nghĩa Chí, Đảng bộ xã Phước Trung. Dù rời quân ngũ, đồng chí vẫn giữ nguyên tác phong của người lính, gương mẫu trong sinh hoạt Đảng, tích cực tham gia các hoạt động của địa phương và luôn là tấm gương sáng về bản lĩnh, đạo đức và tinh thần cách mạng cho thế hệ trẻ.
Ghi nhận những cống hiến to lớn của đồng chí, Đảng và Nhà nước đã trao tặng nhiều phần thưởng cao quý: Huy chương Kháng chiến hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến hạng Nhì và hạng Ba; Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Nhì, Ba; Huân chương Giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba; Huân chương Quân công hạng Ba, cùng nhiều bằng khen, giấy khen và các Huy hiệu 40 năm, 50 năm, 60 năm tuổi Đảng.
Hôm nay, đồng chí vinh dự được trao Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng – phần thưởng cao quý, ghi nhận một chặng đường đặc biệt của người đảng viên đã dành gần trọn cuộc đời mình cho cách mạng.
Sáu mươi lăm năm tuổi Đảng không chỉ là dấu mốc thời gian, mà còn là minh chứng cho một cuộc đời kiên trung với lý tưởng cách mạng. Từ cậu bé mười bốn tuổi bước vào kháng chiến đến người sĩ quan quân đội, rồi người đảng viên mẫu mực ở địa phương, đồng chí Trần Cung luôn giữ trọn lời thề danh dự của người cộng sản.
Cuộc đời đồng chí là một “Hoa lửa” rực sáng giữa dòng chảy lịch sử dân tộc. Ngọn lửa ấy được thắp lên từ lòng yêu nước, được tôi luyện qua chiến tranh, được bền bỉ nuôi dưỡng bằng niềm tin với Đảng và được truyền lại cho các thế hệ hôm nay bằng chính tấm gương sống giản dị, khiêm nhường và tận tụy.
Đối với thế hệ trẻ, câu chuyện của đồng chí Trần Cung là lời nhắc nhở sâu sắc rằng hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng máu xương, tuổi xuân và cả cuộc đời của biết bao người chiến sĩ cách mạng. Mỗi cán bộ, đảng viên hôm nay cần tiếp nối ngọn lửa ấy bằng tinh thần trách nhiệm, lòng trung thành với Đảng, sự tận tụy với Nhân dân và khát vọng xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh.
Đó chính là giá trị trường tồn của những “Hoa lửa” – những con người đã sống một cuộc đời xứng đáng với Tổ quốc, với Nhân dân và với niềm tin thiêng liêng của Đảng Cộng sản Việt Nam.


