DÒNG ĐỜI HOA LỬA – TỪ NGƯỜI CỰU CHIẾN BINH GAN DẠ, ANH DŨNG – ĐẾN CHÂN DUNG MỘT NGƯỜI THẦY BAO TRÒ MẾN MỘ.

TỪ MẢNH ĐẤT QUÊ NHÀ ĐẾN CHIẾN HÀO LỬA ĐẠN
Lịch sử đâu chỉ được làm nên từ ánh đèn rực rỡ, mà lịch sử còn được tô nên từ nơi có những bước chân âm thầm. Có những con người, khi nhắc đến, ta nhớ họ trước hết không phải bằng hào quang sáng rọi, mà lại chính bằng sự lặng lẽ của một đời cống hiến, hi sinh. Trong kí ức của nhiều thế hệ học sinh trường THPT Thanh Hà, thầy Phạm Quang Trung là một người như thế - một người thầy hết sức giản đơn, mang theo sự điềm đạm và tận tâm với nghề. Nhưng ít ai nghĩ rằng, trước khi đứng trên bục giảng, thầy đã từng đi qua những năm tháng khốc liệt nhất của lịch sử dân tộc – những năm tháng được gọi bằng một cái tên vừa đẹp nhưng cũng vừa thật đau: thời hoa lửa.

(ảnh chân dung của người cựu chiến binh và cũng là người thầy hiện tại)
Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Thanh Hà giàu truyền thống cách mạng, khi đất nước bước vào những năm tháng chiến tranh ác liệt, người thanh niên Phạm Quang Trung cũng như bao thế hệ trẻ lúc bấy giờ đã gác lại những dự định riêng để lên đường nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ Quốc. Ấy là những năm đầu của thập niên 1970 – khi Thành cổ Quảng Trị đang là nơi của chiến trường bom đạn dữ dội, thậm chí còn được gọi đầy đau đớn với cái tên: “cối xay thịt người”. Và cũng chính người thanh niên ấy – mới tuổi 17 chưa đầy đôi mươi, đã gác lại những ước mơ riêng, những hoài bão tuổi trẻ để khoác ba lô lên đường nhập ngũ. Chiến trường Quảng Trị – Thành cổ 81 ngày đêm máu lửa – trở thành dấu mốc không thể phai trong cuộc đời của thầy. Ở đó có mưa bom, có ranh giới giữa sinh và tử, và có cả những người đồng đội mãi mãi nằm lại khi tuổi đời còn đang dang dở.


(ảnh thầy Phạm Quang Trung khi lên đường nhập ngũ trước và sau khi được phục chế màu)
Chiến tranh không chỉ là bom đạn và mất mát, mà còn là những đêm hành quân dài, những bữa ăn vội, những khoảnh khắc cận kề sinh tử. Trong hoàn cảnh ấy, điều giúp người lính đứng vững không chỉ là súng đạn, mà còn là một niềm tin mãnh liệt: tin vào đồng đội, tin vào một ngày mai tươi sáng. Thật hạnh phúc biết bao khi người thanh niên ấy đã trở về sau bao tháng ngày cận kề sinh tử. Trong ký ức chiến tranh, thầy không nhắc nhiều đến chiến công, mà nhắc đến tình đồng đội – thứ tình cảm lớn lao được tôi luyện lên bằng máu và nước mắt. Thầy đã từng viết một bài thơ dành tặng cho liệt sĩ Tăng Bá Bình, người đồng đội anh dũng hy sinh năm 1972, đó không chỉ là một khúc tưởng niệm, mà là lời thề thầm lặng của những người đã từng sống sót và đi qua chiến tranh: hãy sống sao cho xứng với người đã ngã xuống.
Đây là những lời thơ thầy đã dành tặng cho người đồng đội năm ấy:
Nghĩa tình đồng đội
Sáng nay thắp nén tâm hương,
Nhớ người đồng đội máu xương thắm hồng
Tên anh sáng giữa non sông
Một thời lửa đạn, can trường hiên ngang.
Bình ơi! Nhớ mãi trang vàng
Ra đi để lại muôn vàn yêu thương
Hy sinh cho nước vô thường
Non sông gấm vóc,quê hương đẹp giầu
Hôm nay về thắp hương thơm,
Gặp người em nhỏ mà như bóng hình.
Bàn tay siết chặt ân tình,
Nghe trong tim ấm nghĩa tình năm xưa.
Đồng đội ơi, chẳng xa mờ,
Dẫu cho năm tháng bây giờ không phai
Tình đồng đội mãi ngân dài
Ngàn đời vẫn sáng, vẫn thành sắt son.
Mai sau thế hệ nối dòng,
Nhớ người ngã xuống, khắc lòng tri ân.
Quê hương rạng rỡ muôn phần,
Tình đồng đội mãi trong ngần sáng trong
Mình xin tiết lộ với các bạn:
Liệt sỹ Tăng Bá Bình đã từng lọt vào danh sách để Đảng và Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang của Quân đội nhân dân Việt Nam ...
Ngày 5.10.2025
Đồng đội Phạm Quang Trung
NGƯỜI LÍNH TRỞ VỀ - MỘT NGỌN LỬA BẤT DIỆT KHÁC ĐƯỢC BÙNG LÊN
Những năm tháng kiên cường trong quân ngũ đã rèn cho thầy Phạm Quang Trung một ý chí bền bỉ và một tinh thần của kỷ luật thép. Chiến tranh dạy con người ta biết quý trọng từng phút giây được sống, biết trân trọng hòa bình bằng chính những gì đã phải đánh đổi. Và có lẽ cũng từ lúc đó, khi chiến tranh kết thúc, cũng là lúc đất nước được thống nhất, người lính năm nào đã chọn cho mình một con đường rất khác, nhưng cũng không kém phần gian nan với cái tên con đường của nghề giáo.
Rời quân ngũ, thầy Phạm Quang Trung trở về quê hương, đứng trên bục giảng Trường THPT Thanh Hà. Từ đây, bảng đen đã thay cho chiến hào cát bụi, phấn trắng đã thay cho súng đạn can trường. Nhưng bản chất của sự cống hiến thì vẫn không hề thay đổi. Trong ánh mắt người thầy ấy vẫn luôn ánh lên một ngọn lửa âm thầm – một ngọn lửa của trách nhiệm và cống hiến hết mình cho Tổ Quốc. Thầy dạy học trò không chỉ bằng kiến thức trong sách vở, mà bằng chính tác phong, lối sống và nhân cách của mình. Sự nghiêm khắc của thầy không làm học trò sợ hãi, mà khiến người ta nể phục; sự tận tâm của thầy không ồn ào, nhưng đủ để neo lại thật sâu trong lòng bao thế hệ. Có những bài học thầy không giảng thành lời. Đó là bài học về kỷ luật, về lòng kiên trì, về cách sống tử tế và có trách nhiệm. Chiến tranh đã đi qua đời thầy, nhưng thầy không mang theo những câu chuyện để kể công, mà mang theo tinh thần của người lính để gieo vào lòng học trò – thế hệ sinh ra trong hòa bình, nhưng không được phép lãng quên quá khứ. Biết bao thế hệ học trò đã đi qua mái trường, để rồi lại mang theo trong hành trang cuộc đời một hình bóng người thầy lặng lẽ, chuẩn mực, suốt đời đứng về những điều nhân sinh cao cả.
Ấn tượng đặc biệt nhất chính là hội học sinh lớp 12B niên khóa 1987-1990, một niên khóa để lại trong thầy biết bao nhung nhớ, và rồi cũng chính người thầy ấy đã chắp bút viết thành thơ sau ngày hội ngộ:
Mừng Ngày Gặp Lại Trò Yêu 12B
Nhân kỷ niệm 35 năm ngày ra trường
1990_2025
Ba mươi lăm độ xuân xanh,
Nay về hội ngộ long lanh sắc màu
Tình Thầy _trò, nghĩa ân sâu
Vẫn nguyên ánh mắt, vẫn câu dặn dò
TUỔI THANH XUÂN, NÉT HỌC TRÒ
MIỆT MÀI HÔM SỚM, HẸN HÒ VẤN VƯƠNG
Nét xưa phấp phới học đường,
Sân trường rợp nắng, NHỚ THƯƠNG tháng ngày.
Bảng đen, phấn trắng như bay,
Lời giảng năm ấy còn lay gió chiều…
Nay trò tóc điểm sương nhiều,
Thầy già nhưng vẫn chiều chiều Nhớ mong.
Thủ đô văn hiến chờ trông
Nhà khách quân đội bồng bềnh kết hoa
Mừng các em đã vượt qua
Đoạn đường giông bão phong ba cuộc đời
Vẫn như giọt nắng giữa trời
Gieo cho xã hội, một Thời tuổi xanh
Chắt chiu giọt sống kết thành
Giàu thêm trí tuệ, nghĩa tình nở hoa
Chúc cho cả lớp chúng ta
12B mình mãi mãi là đẹp xinh
Nay gặp mặt đã chứng minh
Cho dù năm tháng có nghìn đổi thay.
Chúc mừng hội lớp hôm nay
Đậm đà nhân nghĩa, tràn đầy niềm vui!
Yêu trò Thầy tặng đôi lời
Một trang kỷ niệm, thật nhiều yêu thương
Thủ đô Hà Nội ngày 13.7.2025
Thầy Phạm Quang Trung

(ảnh người cực chiến binh-người thầy cùng các cô cậu học trò lớp 12B niên khóa 1987-1990)
III. MÁI ẤM RIÊNG – HẬU PHƯƠNG CỦA MỘT ĐỜI CỐNG HIẾN
Sau lưng người cựu chiến binh và cũng là người thầy ấy chính là một mối tình bền bỉ với người bạn đời – người phụ nữ đã cùng thầy đi qua những năm tháng gian khó nhất. Không ồn ào, không khoa trương, đó là thứ tình yêu của thế hệ biết nhẫn nại, biết hy sinh, biết lấy gia đình làm điểm tựa để vững vàng giữa trường đời phong trần, tấp nập. Chính mái ấm ấy là nơi thầy trở về sau mỗi ngày đứng lớp, là chốn bình yên nuôi dưỡng tâm hồn người từng đi qua bom đạn. Tình yêu đôi lứa hòa quyện cùng tình yêu nghề, tạo nên một cuộc đời tròn đầy – lặng lẽ mà sâu sắc.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.

(ảnh thầy Phạm Quang Trung cùng vợ)
IV. THƠ CA – TIẾNG NÓI CỦA MỘT TÂM HỒN SÂU THẲM
“Có những ký ức không thể kể hết bằng lời, nên người ta gửi chúng vào dòng thơ – để nâng niu những phút giây đoái hoài những kỉ niệm, để lưu giữ từng vệt ký ức lắng đọng với thời gian”.
Nếu chiến tranh để lại trong thầy Phạm Quang Trung những ký ức không thể nào quên, thì thơ ca chính là cách thầy đối thoại với ký ức ấy trong suốt hành trình của cuộc đời mình. Thơ đối với thầy không phải để phô diễn cảm xúc, mà thơ chính như một người bạn tri kỉ giúp thầy gửi vào bao tâm tình, nỗi nhớ. Những nỗi nhớ về tình đồng đội, tình thầy trò, tình yêu quê hương và những năm tháng miệt mài đang trôi dần vào “vòng quay thế kỉ” của dòng chảy thời gian.
Không chỉ viết về chiến tranh, thơ của thầy còn hướng về mái trường Thanh Hà quê hương yêu dấu, nơi thầy đã dành trọn nửa đời gắn bó. Những bài thơ viết trong ngày trở về trường cũ, trong dịp kỷ niệm 60 năm thành lập trường, hay trong những cuộc hội ngộ học trò sau hàng chục năm xa cách, đều chan chứa tình thầy – trò bền chặt. Ở đó, bảng đen, phấn trắng, sân trường, hàng phượng… đã không còn là những kỷ niệm đơn sơ, mà là một phần đời của người thầy đã coi nghề giáo như một lẽ sống để tận tâm, tận tụy.
Những vần thơ thầy viết khi trở về mái trường Thanh Hà dấu yêu:
Sáng nay dưới ánh nắng ngời,
Về thăm trường cũ, lòng tôi bồi hồi.
Nửa đời gắn bó sáng ngời,
Bảng đen, phấn trắng, một thời yêu thương.
Giờ đây tóc đã pha sương,
Về đây thăm lại mái trường thân yêu.
Bước chân bâng khuâng Phiêu diêu
Bao kỷ niệm cũ sớm chiều hiện ra.
Năm mươi năm, đất nước ta,
Một trời hoa nở, chan hòa niềm tin.
Máu xương bao lớp nghĩa tình,
Non sông rạng rỡ, bình minh sáng ngời
Âm vang tiếng hát xây đời
Cờ bay rợp bóng ngời ngời sắc xuân
Thầy cô, bè bạn quây quần
Ấm lòng thương nhớ, muôn phần thân thương
Cảm ơn đời những mùa xuân
Cảm ơn mái ấm ngôi trường dấu yêu
Đẹp thêm trang sử sớm chiều
Cho tôi gửi trọn bao nhiêu tâm tình
Chúc các em, mỗi bình minh
Chăm ngoan học tốt, trường mình thêm Xuân
Chúc Thầy cô thắm nghĩa tình
Đón mừng kỷ niệm trường mình 60...
Ngày 28.4.2025
Thầy giáo Phạm Quang Trung

(ảnh thầy Quang Trung trở về trường ngày 28.04.2025)

(ảnh thầy Hiệu trưởng Lê Xuân Nguyên tặng hoa chúc mừng người thầy-cựu chiến binh Phạm Quang Trung)
Thơ ca, vì thế, đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt cuộc đời của người cựu chiến binh và cũng là người thầy Phạm Quang Trung – từ người lính nơi chiến hào, đến người thầy trên bục giảng, rồi một người già điềm tĩnh nhìn lại quá khứ bằng sự bao dung và biết ơn. Những vần thơ ấy không chỉ để cho ta đọc, mà còn để cho ta cảm, và hơn hết để ta hiểu rằng: có những ký ức chỉ có thể được giữ lại trọn vẹn bằng ngôn từ của trái tim chân thành nhất.
Thời hoa lửa không chỉ nằm lại ở chiến hào Quảng Trị năm xưa, mà nó đã trở thành một biểu tượng cho ngọn đuốc sáng mãi, nó tiếp tục cháy – lặng lẽ nhưng bền bỉ – trong từng bài học, từng lời thơ, từng thế hệ học trò đã trưởng thành theo năm tháng.
Và chính những con người như thầy đã nhắc chúng ta hiểu một điều giản dị mà lớn lao rằng: Hòa bình không phải tự nhiên mà có. Nhân cách cũng không phải tự nhiên mà thành. Tất cả đều được nuôi dưỡng bằng sự hy sinh cao cả, bằng một kỷ luật kiên cường và bằng một tình yêu thương vô bờ bến.



