Động thổ mở đường cơ giới Trường Sơn
Sinh năm: 5-1930 Quê quán: Đông Hoàng, Đông Hưng, Thái Bình Thường trú: Nhà 20-N3, Tổ 57, Thịnh Quang, Đống Đa, Hà Nội Điện thoại: 04.35632535 - 0988 236850 Từ Trung đoàn 83, Cục Công binh, BQP Nguyên Trung tá Phó Cục trưởng Cục TMC8 559 Nguyên Phó Tư lệnh Binh đoàn 12, Thiếu tướng Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, QĐNDVN
Ngày 09 tháng 8 năm 1964, động thổ mở đường cơ giới Trường Sơn
Những ngày đầu tháng 8 năm 1964, trên đất bạn Lào thuộc tỉnh Sa La Van vừa được giải phóng, thi thoảng từng nơi vẫn còn khét mùi thuốc súng, đồi nương bỏ hoang, cỏ mọc um tùm. Trong các bản làng, những mái nhà lá ọp ẹp, chỉ còn trơ khung gỗ cháy đen. Nhân dân các bộ tộc Lào anh em, lác đác đã trở về bản làng để khôi phục, làm lại nương rẫy.
Thấy bộ đội Việt Nam sang, bà con vô cùng phấn khởi, chắc không còn phải sơ tán liên tục như những thời kì trước. Bà con rất nghèo và đói, nhưng tinh thần giúp đỡ bộ đội thì vô cùng quý giá. Tôi nhớ có lần đoàn của cơ quan Trung đoàn bộ chúng ta gặp một tốp người dân nước Bạn già, trẻ, trai, gái, quần áo rách mướp, đang gồng mình trèo đốc, gùi những kiện hàng nặng nề, với những bước đi khó nhọc, chắc là đói lắm.
Đồng chí Trần Bá, Chủ nhiệm Chính trị thấy vậy hồi: “Đồng bào gùi gì thế, nặng lắm hay sao mà đi khó khăn vậy, hãy nghỉ và lấy một ít trong gùi để ăn rồi hãy đi”.
Một cụ già nói: “Không được đâu! Mình đói khổ nhưng không bằng bộ đội Việt Nam và tha hán Lào còn đói khổ hơn nhiều, lại còn hy sinh nữa chứ! Mình gùi thuốc cho bộ đội để chữa bệnh đây, bộ đội ốm nhiều lắm mà! Mình không đựơc ăn, bộ đội ốm yếu lấy gì chữa bệnh để đánh Mỹ”.
Đồng chí Chuẩn, Trợ lý Chính trị đề nghị dành mỗi người một phần cơm nắm cho bà con. Anh em hưởng ứng ngay, các gói cơm nắm ăn trưa đều được bẻ đôi chia sẻ với đồng bào. Những hình ảnh đầu tiên đó đã làm cán bộ chiến sỹ cảm động, một bài học sâu đậm về tình nghĩa anh em Việt Lào.
Ngày 02 tháng 8 năm 1964, anh Nguyễn Phụ Hồng, Bí thư Đảng uỷ triệu tập họp Đảng uỷ, cuộc họp đầu tiên thông qua quyết tâm. Mình báo cáo nhiệm vụ của Trung đoàn mà Bộ Quốc phòng giao, các kế hoạch lãnh đạo và đảm bảo, một kế hoạch dài 2 năm đến cuối năm 1965, đường phải thông đến bắc Tây Nguyên, trước mắt đến cuối năm 1964 phải thông đến Bạc (Km 343 đường 128 sau này) bắc sông Sê Kông.
Tiếp sau đó, trong hội nghị quân chính, các cơ quan tham mưu, đồng chí Hoàng Tiên Vinh, Tham mưu phó báo cáo tình hình tuyến đường, sử dụng lực lượng kế hoạch khởi công. Đồng chí Lê Đức Bảo, Chủ nhiệm Hậu cần báo cáo kế hoạch đảm bảo hậu cần. Anh Bảo rất hăng hái, nhấn mạnh, gạo thực phẩm rất ít, có thể sẽ thiếu, nhưng sẽ cấp mỗi tháng mỗi người một cân muối. Anh em ngầm hiểu, có muối sẽ có thêm thực phẩm, rau, đậu, thịt bằng cách đổi cho đồng bào. Đồng chí Nang, Phường, cơ quan khí tài hứa sẽ tìm mọi cách có đủ cuốc xẻng, dao, choòng và nhấn mạnh không có thuốc nổ. Anh Bá, Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn, lấy ngay hình ảnh vừa gặp nhân dân Lào di trên đường để giáo dục chiến sĩ giữ vững mối quan hệ Việt Lào, giữ vững sinh hoạt Đảng, công tác chính trị, động viên khen thưởng kịp thời v.v...
Buổi họp quân chính trên đất bạn Lào đầu tiên, đã có quyết tâm cao như thế!
Ngày 03 tháng 8, các cán bộ ra về triển khai tích cực để kịp ngày khởi công: 07 tháng 8 năm 1964.
Chắc các đồng chí chúng ta ngồi đây đều còn nhớ: Ngày 05 tháng 8 năm 1964, đế quốc Mỹ gây sự kiện vịnh Bắc Bộ, đưa hàng chục máy bay bắn phá Quảng Ninh, Hải Phòng, Thanh Hoá, Vinh... Quân dân ta đã chiến đấu rất dũng cảm, ngày đầu tiên bắn rơi 12 máy bay, bắt sống giặc lái. Dã tâm xâm lược của đế quốc Mỹ đã quá rõ ràng. Nhạy bén với tình hình, đồng chí Chính uỷ Nguyễn Phụ Hồng nhanh chóng hội ý thường vụ Đảng uỷ: chúc mừng chiến công đâu tiên của quân dân miền Bắc, Trung đoàn 98 phải tỏ rõ quyết tâm bằng ngày ra quân đầu tiên trên Trường Sơn phải là ngày thắng lợi đầu tiên trả thù cho đồng bào miền Bắc.
Và một ý nghĩ mới vụt đến. Chúng ta sẽ tích cực chuẩn bị thêm, sẽ ra quân lùi lại 2 ngày và lấy đúng ngày 09 tháng 8, con số trùng hợp với tên Trung đoàn 98 để ghi nhớ được lâu. Tất cả chúng tôi hoan nghênh sáng kiến và triển khai theo phương án này. Đồng chí Trung đoàn phó Chu Minh Đông nói: ngày đó chỉ huy và cơ quan chúng ta phân chia xuống các tiểu đoàn để đốc chiến và đề nghị Trung đoàn trưởng và Chính uỷ trực tiếp xuống hẳn một đại đội để dự cùng anh em. Chúng tôi đã chọn Đại đội 4, Tiểu đoàn 2 là đơn vị được bố trí tốt nhất về nhân sự, vật chất, tinh thần.
Một điều thú vị chỉ huy Đại đội 4 là đại diện cho hai miền Nam Bắc. Đại đội trưởng Nguyễn Văn Bộp, quê Bắc Giang, Chính trị viên Đặng Đức Thông quê Quảng Nam. Trong các cán bộ trung đội có Đoàn Ngọc Lập, Vương Thanh Cầm, Nguyễn Tân Đăng đều là cán bộ trẻ, hăng hái, nhiệt tình, được đào tạo cơ bản tại trường Sĩ quan Công binh. Gần 100 chiến sĩ đều là lính nghĩa vụ trẻ, khoẻ.
Đúng 5 giờ 30 sáng ngày 09 tháng 8 năm 1964, cán bộ chiến sĩ Đại đội 4 vừa ra tới hiện trường thì một cơn mưa rào ập tới, cơn mưa kéo dài gần 30 phút. Anh em phải tạm trú mưa, thử thách đầu tiên phải vượt qua. Có tiếng xôn xao, ông trời không ủng hộ 98, mưa thế này vỡ kế hoạch ngay từ ngày đầu ra quân!
Đại đội trưởng Nguyễn Văn Bộp vụt đứng dậy ứng xử linh hoạt: “Các đồng chí nhầm rồi. Ở quê ta, mỗi khi đào móng làm nhà gặp được trận mưa to là điềm lành đây. Đây mình sắp “động thổ”, “hên” lắm chứ!” Mọi người cười to đồng tình hưởng ứng.
Và đúng như vậy, sau 30 phút mưa nặng hạt, trời bỗng tạnh hắn. Đại đội 4 đã về đúng vị trí của mình, như bài học đội hình vừa làm đường vừa sẵn sàng chiến đấu, có cảnh giới, phòng không, phòng địch mặt đất.
Lễ động thổ khởi công tuyến ô tô Trường Sơn bắt đầu!
Nghi lễ thật là đơn giản vì điều kiện chiến trường và vì bảo mật. Không có băng rôn lớn, chỉ có khẩu hiệu viết tay cài trên mũ hoặc viết trên ống tre nứa. Cơm nước không bày biện nhưng được ăn nóng ngay trên mặt đường.
Chẳng có bộc phá nổ mở màn mà chỉ có mệnh lệnh đơn giản:
- “Vì miền Nam ruột thịt, vì đất nước thống nhất! Tất cả bắt đầu”.
Tôi vừa ra lệnh, hàng trăm cánh tay giơ cao vung xuống, tiếng cuốc, tiếng xẻng, tiếng dao búa ầm ầm làm mất đi sự tĩnh mịch của không gian buổi sáng sớm.
Tất cả lao động liên tục cho đến hết ngày. Buổi đầu năng suất rất cao, toàn Trung đoàn hoàn thành gần 10 ki lô mét đường ô tô. Chúng ta đã đánh thắng trận đầu giòn giã, hưởng ứng ngày chiến thắng của miền Bắc bắn rơi máy bay Mỹ.
Nói đến đây, anh Tiệp quay sang phía bên phải hỏi: các đồng chí ngồi đây có đồng chí nào tham gia mở đường ngày đó không? Hơn chục cánh tay giơ lên tự hào: “Có đấy ạ!”.
Cuộc họp mặt hôm nay, một số đồng chí Đại đội 4 ngày đó cũng có mặt. Đồng chí Đỗ Phương Tâm lần lượt giới thiệu từng người một và nói:
- “Anh em Đại đội 4 hiện ở Cổ Loa, Đông Anh còn hơn 20 đồng chí, thời đó đều là chiến sĩ, chỉ có 2 đồng chí là A trưởng. Đồng chí Ngát, đồng chí Năm, đồng chí Lưu, lần lượt phát biểu đều tỏ ra rất vui mừng, không ngờ được vinh dự sống trong ngày lịch sử động thổ bổ nhát cuốc đầu tiên Trường Sơn năm ấy. Ngày 09 tháng 8 năm 1964 là như vậy!
Hướng về phía Nam, nhanh chóng đưa đường đến ngã ba biên giới
Ngày 09 tháng 8 đó cũng là mở đầu cho một đợt thi đua “Vì miền Nam ruột thịt”. Tiếp theo, dựa vào tài liệu khảo sát thiết kế của Cục Công binh đã chuẩn bị từ năm 1963, Trung đoàn theo đội hình lúc cuốn chiếu, lúc nhẩy cóc, trong hơn 4 tháng vượt qua mọi địa hình phức tạp, thời tiết khắc nghiệt, thiếu thốn vật chất, đến giữa tháng 12 năm 1964, Trung đoàn đã đến dốc Bạc bên dòng sông Sê Kông.
Đúng dịp kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân, Tham mưu phó Cục Công binh Nguyễn Văn Nhạn dẫn 7 chiếc xe Gatz thông đường trong niềm vui tin tưởng.
Đúng là dốc Bạc!... Một đoạn đường ngắn có độ dốc quá lớn, lớn vượt quá tiêu chuẩn cho phép, lại phải qua 12 vòng cua ngược chiều nhau liên tiếp. Cán bộ chiến sỹ chúng ta, vừa mưu trí, vừa lao động vát vả, vật lộn gian khổ với 12 cua dốc trong nhiều ngày đêm mới hoàn thành. Đây là một ky niệm không bao giờ quên, còn đọng lại mãi trong anh em chúng ta, nhưng ai đã một thời mở đường từ Bản Đông đến Bạc. Những năm sau, dốc 12 cua trở thành trọng điểm, máy bay địch đanh phá thường xuyên, nhiều xe bị đổ, bị hỏng ở dốc này.
Cũng phải nói là thời kỳ đầu chúng ta chưa triển khai được cầu, phà, nên phải vượt sông bằng ngầm, mà ngâm có yêu cầu kỹ thuật riêng, đường xuống ngầm bị không chế nên khó tránh dốc lớn. Sau này chúng ta có nhiều biện pháp khắc phục: nhiều ngầm, nhiều bến phà, cầu nổi.
Vượt qua sông Bạc, chúng ta có thêm bạn đồng hành. Đó là Trung đoàn 279 có mật danh Rạng Đông, do anh Hoàng Đình Luyến làm Trung đoàn trưởng và anh Hoàng Thược, Chính uỷ. Hai trung đoàn Bình Minh và Rạng Đông, hai cái tên của hai anh em sinh đôi cùng một binh chủng, cùng bắt tay nhau, đưa tuyến đường hết đoạn này qua đoạn khác. Đường càng vào trong càng khó khăn thêm. Việc đưa lương thực đến phía sau càng gian nan. Trung đoàn Rạng Đông qua 3 tháng liên tục không đưa được nổi 4 máy ủi vượt sông Bạc. Thuốc nổ lại càng khó hơn, Đèo Long1 (Đèo Long: đường lên đốc phía nam ngầm Bạc sau này trở thanh trọng điểm) vừa dốc vừa lắm đá, phải dẫm chân chân tại chỗ khá lâu mới thông xe được. Vượt qua Chà Vằn, dốc Bô Phiên, đèo Sê Ka Mán lại hiện ra trước mặt, quanh co, đá tảng xếp tầng.
Chúng ta đã khéo bố trí đội hình, sử dụng hợp lý thuốc nổ ít ỏi để có hiệu suất cao, đã có sáng kiến làm bừa đất bằng gỗ và dây rừng tại chỗ của các đồng chí Đại đội 4, năng suất nâng lên gấp nhiều lần. Toàn đơn vị đã tận dụng mọi thời gian, bất kể mưa nắng, không có ngày nghỉ, một ngày liên tục ở mặt đường từ 6 giờ sáng đến 7 giờ tối. Lao động như vậy, ăn uống lại thiếu thốn. Do gạo và lương thực không vận chuyển vào kịp, chiến sĩ bình quân mỗi ngày chỉ được không quá 3 lạng gạo, có ngày chỉ đủ gạo nấu cháo.
Tuy vậy với tinh thần vì miền Nam, Trung đoàn vẫn quyết tâm lao động để đưa nhanh đường về tới đích. Thiếu gạo thì kiếm củ mài, củ rừng, hạt dẻ, hạt gắm bổ sung. Thiếu rau thì có rau tầu bay, rau lá sắn, măng tre thay thế. Thiếu thịt, thỉnh thoảng có chú lợn rừng sa bẫy cung cấp. Đủ các thứ khắc phục nhưng cũng không thể giữ được sức khoẻ cho bộ đội.
Thời tiết, muỗi rừng, vắt đen, vắt xanh đua nhau bóc xé da thịt chiến sỹ. Nhiều chiến sĩ bị sốt rét hành hạ. Một loại dịch sốt rét ác tính rất nguy hiểm, dẫn đến tử vong rất nhanh. Đại đội 7 thuộc Tiểu đoàn 2 chỉ trong 3 ngày đã có 10 đồng chí hy sinh. Thuốc chống sốt rét rất thiếu. Anh em quân y cũng đã khắc phục, học tập kinh nghiệm địa phương lấy phôi ổ mối sắc với rễ cây ớt, sao vàng, uống nước, nên đỡ được phần nào. Nhiều hôm, đơn vị chỉ còn 50% chiến sỹ ra mặt đường. Chính uỷ Phụ Hồng, đã có buổi sáng nhường lại bát cháo cho đồng chí trợ lý ăn để có sức ra mặt đường. Chiến sỹ khoẻ nhường phần cháo của mình cho chiến sỹ ốm là chuyện bình thường.
Kẻ địch trên không, dưới mặt đất luôn gây cho ta nhiều khó khăn. Nhận thấy nguy cơ con đường mòn ngày càng vào sâu, chúng đã dùng mọi phương tiện hiện đại chụp ảnh liên tục cả ngày lẫn đêm hòng phát hiện để bắn phá, ngăn chặn.
Tại Pắc Huội, máy bay AD6 đã oanh tạc vào đúng đội hình của Đại đội 7, Tiểu đoàn 3, làm hai đồng chí hy sinh, 10 đồng chí bị thương. Tiểu đoàn 1 dang trên đường hành quân di chuyển cũng bị máy bay phát hiện và bắn phá. Đã có nhiều lần, chúng ta bắt được các toán biệt kích đóng giả dân trà trộn vào nơi trú quân và thi công của ta.
Khó khăn như vậy, nhưng ngày ngày đường vẫn cứ vươn dài. Bình Minh vượt qua Rạng Đông, rồi Rạng Đồng lại vượt qua Bình Minh, "hai anh em sinh đôi” đang cùng nhau chơi tiếp sức, tiếp tục chinh phục con đường phía trong. Suối To, Sê Sụ, Phi Hà rồi Pa Kha và đúng đến ngày 18 tháng 01 năm 1966, Trung đoàn Bình Minh đã tới Tà Xẻng bắc Tây Nguyên. Đây là ngã ba Đông Dương, nơi có câu nói huyền thoại: “Một con gà gáy cả ba nước cùng nghe!”, kết thúc giai đoạn đầu tiên trong mệnh lệnh ban đầu. Cả hai trung đoàn Bình Minh và Rạng Đông đã hoàn thành một đoạn đường dài 256 ki lô mét.
Và tại đây, chúng ta đã tổ chức cho chiến sỹ ăn cái Tết thứ hai ở Trường Sơn, trong niềm vui chung cùng các chiến thắng trên chiến trường miền Nam.



