Dưới lòng thành phố tôi sinh ra
Sinh ra ở Đà Nẵng, tôi từng biết Thanh Khê như một phần quen thuộc của thành phố nhưng lại biết rất ít về câu chuyện của Mẹ Nhu và căn hầm bí mật năm 1968. Từ một địa điểm rất thật trên quê hương mình, tôi hiểu lịch sử gần với cuộc sống hôm nay hơn mình từng nghĩ.
Tôi sinh ra ở Đà Nẵng, nhưng có một điều khá lạ là càng lớn, tôi càng nhận ra mình vẫn còn biết rất ít về nơi mình sinh ra. Khi nhắc đến Đà Nẵng, người ta dễ nhớ đến biển, sông Hàn, những cây cầu hay một thành phố thay đổi rất nhanh. Tôi cũng vậy. Những hình ảnh đó gần gũi đến mức tôi từng ít khi nghĩ rằng ngay giữa thành phố hôm nay từng có những căn nhà mà bên dưới nền đất là hầm bí mật. Một trong những căn nhà ấy là nhà của Mẹ Nhu ở Thanh Khê.
Mẹ Nhu tên thật là Lê Thị Dãnh. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, nhà Mẹ là một cơ sở cách mạng trong nội thành Đà Nẵng. Gia đình đào hầm bí mật ngay trong nhà để cán bộ và chiến sĩ biệt động có thể trú ẩn. Khi tìm hiểu câu chuyện này, điều khiến tôi chú ý nhất không phải ngay lập tức là một trận đánh hay một con số về chiến công. Tôi cứ nghĩ đến căn nhà trước. Trên nền nhà ấy vẫn là cuộc sống của một gia đình, nhưng chỉ cách vài bước chân, ở phía dưới lại là một thế giới hoàn toàn khác.
Tôi thử hình dung việc sống trong một căn nhà như vậy. Phía trên, mọi người vẫn phải nấu ăn, đi lại và sinh hoạt sao cho càng bình thường càng tốt. Phía dưới, những người đang được che giấu phải hạn chế tiếng động và chờ đến lúc an toàn mới có thể lên. Một việc rất nhỏ như chuẩn bị thêm một phần cơm cũng phải cẩn thận để không khiến người khác nghi ngờ. Những chi tiết ấy làm tôi cảm thấy chiến tranh gần hơn những gì mình từng hình dung. Nó không chỉ diễn ra ở chiến trường. Có lúc, nó nằm ngay trong căn bếp của một gia đình.
Đêm 23 tháng 12 năm 1968, sau khi thực hiện nhiệm vụ ở khu vực Phú Lộc, các chiến sĩ biệt động trở về trú ẩn tại nhà Mẹ Nhu và nhà Mẹ Hiền gần đó. Ba ngày sau, sáng 26 tháng 12, cơ sở bị lộ và lực lượng đối phương bao vây khu vực. Anh Phạm Phú Long, con trai Mẹ Nhu, bị bắt tại nhà và bị tra hỏi về nơi các chiến sĩ đang ẩn náu. Anh không khai. Sau đó họ tiếp tục tra khảo Mẹ Nhu.
Mẹ cũng không khai.
Tôi nghĩ mình không cần tưởng tượng thêm Mẹ đã nói gì hay đã nghĩ gì vào lúc đó. Không ai trong chúng ta hôm nay có thể biết chính xác. Điều lịch sử để lại đã đủ để khiến người đọc phải dừng lại: Mẹ biết những người đang bị truy tìm ở đâu, nhưng Mẹ không chỉ chỗ căn hầm. Mẹ bị đánh, bị đe dọa và cuối cùng hy sinh trong buổi sáng ngày 26 tháng 12 năm 1968.
Chính đoạn này khiến tôi suy nghĩ nhiều nhất. Mẹ Nhu không chỉ đang đứng trước sự nguy hiểm của riêng mình. Con trai Mẹ cũng vừa bị bắt và tra khảo. Ngay dưới căn nhà là những người mà Mẹ đang che chở. Tôi không biết nếu đặt mình vào hoàn cảnh ấy, mình sẽ làm được đến đâu. Có lẽ ở thời điểm bình yên như hôm nay, chúng ta rất dễ nói rằng mình sẽ kiên định, sẽ dũng cảm. Nhưng nói khi không có gì để mất khác hoàn toàn với việc phải lựa chọn khi hậu quả đang ở ngay trước mắt.
Vì vậy, tôi không muốn dùng quá nhiều từ lớn để nói về Mẹ. Câu chuyện của Mẹ tự nó đã đủ mạnh. Một người phụ nữ trong một căn nhà ở Thanh Khê biết bí mật nằm ngay dưới chân mình và đã giữ bí mật đó đến cuối cùng. Với tôi, đó là phần khó quên nhất.
Sau khi cơ sở bị phát hiện, các chiến sĩ dưới hầm phải chiến đấu để thoát khỏi vòng vây. Sự kiện ngày 26 tháng 12 năm 1968 sau này được nhắc đến với tên gọi “Chiến công Mẹ Nhu và 7 Dũng sĩ Thanh Khê”. Nhưng có lẽ vì tôi tiếp cận câu chuyện từ một người sinh ra ở thành phố này, nên thứ ở lại trong đầu tôi không chỉ là diễn biến của trận đánh. Tôi nhớ đến căn hầm nhiều hơn.
Ở khu di tích ngày nay vẫn còn những hiện vật gắn với Mẹ và các chiến sĩ: bộ quần áo của Mẹ, đĩa dùng để tiếp cơm cho cán bộ, chiếc đèn dầu từng được sử dụng trong hầm và những dấu tích của căn hầm bí mật. Đó đều là những món đồ rất bình thường. Nếu không biết câu chuyện phía sau, có thể chúng ta sẽ đi ngang qua mà không chú ý nhiều. Nhưng một chiếc đĩa từng được dùng để đưa cơm xuống hầm khiến lịch sử khác hẳn một dòng ngày tháng trong sách. Nó nhắc rằng những con người chúng ta gọi là “nhân vật lịch sử” cũng từng sống bằng những thứ rất đời thường như vậy.
Tôi thấy điều này đặc biệt quan trọng với những người thuộc thế hệ của mình. Chúng tôi biết chiến tranh chủ yếu qua sách, phim ảnh, bảo tàng và lời kể. Khoảng thời gian hơn nửa thế kỷ đủ dài để một sự kiện đôi khi trở thành vài dòng cần nhớ cho một bài kiểm tra. Nhưng khi biết rằng câu chuyện của Mẹ Nhu xảy ra ngay tại Thanh Khê, trên chính mảnh đất Đà Nẵng nơi tôi sinh ra, khoảng cách ấy bỗng ngắn hơn.
Những điều khiến tôi lo lắng ở tuổi của mình bây giờ rất khác: học hành, công việc, những lựa chọn cho tương lai, đôi lúc là những chuyện nhỏ mà vài tháng sau nhìn lại có thể tôi cũng không còn nhớ rõ. Tôi không nghĩ đem những khó khăn đó so với chiến tranh rồi nói rằng người trẻ hôm nay không được phép than mệt là hợp lý. Mỗi thời có vấn đề riêng. Nhưng câu chuyện của Mẹ Nhu khiến tôi nhận ra một điều mà trước đây tôi ít để ý: mình có thể lo về tương lai vì mình đang có một tương lai để lựa chọn.
Tôi có thể nghĩ đến việc mình sẽ làm gì trong một năm nữa, vài năm nữa. Một người trẻ hôm nay có thể rời nhà đi học, đi làm rồi trở về vào buổi tối mà không phải nghĩ xem dưới nền nhà có ai đang trốn hay ngoài cửa có người đang truy tìm mình hay không. Viết đến đây, tôi mới thấy những chuyện quá quen thuộc như một bữa cơm bình thường hay một buổi sáng không có tiếng súng cũng là một phần của hòa bình. Có lẽ vì chúng quá bình thường nên người sống trong hòa bình lại dễ quên điều đó nhất.
Đà Nẵng hôm nay thay đổi rất nhanh. Thành phố có thêm đường mới, công trình mới và những thứ khiến người ta muốn nhìn về phía trước. Điều đó là tự nhiên. Nhưng càng nhìn về phía trước, tôi nghĩ càng cần biết một chút về những gì đã từng nằm trên chính mảnh đất mình đang đứng. Có thể chúng ta đã từng đi qua một di tích mà không biết câu chuyện của nó. Có thể đã nhìn thấy một cái tên nhiều lần nhưng chưa bao giờ thử tìm hiểu người đó là ai. Tôi cũng không phải ngoại lệ.
Vì vậy, điều tôi nhận được từ câu chuyện Mẹ Nhu không phải là cảm giác mình phải làm một việc gì thật lớn để thể hiện lòng biết ơn. Có khi việc đầu tiên chỉ đơn giản là biết. Biết người đã từng sống ở đây. Biết chuyện gì đã xảy ra ở đây. Và đừng để những cái tên chỉ còn tồn tại trên một tấm bảng hay trong vài dòng tài liệu mà không còn ai muốn hỏi thêm.
Nếu một ngày đứng trước căn hầm ở khu di tích Mẹ Nhu, có lẽ điều tôi muốn nhìn kỹ nhất vẫn là khoảng không nhỏ dưới nền nhà ấy. Hơn nửa thế kỷ trước, có những con người từng phải ngồi trong đó và chờ đợi trong im lặng. Hôm nay, một người trẻ sinh ra ở cùng thành phố có thể đứng phía trên, nhìn xuống và bình thản nghĩ về những năm tháng sắp tới của đời mình. Hai hình ảnh ấy cách nhau không quá xa về địa lý, nhưng để đi từ hình ảnh thứ nhất đến hình ảnh thứ hai, đã có những người không thể trở về.
Tôi chưa từng gặp Mẹ Nhu. Mẹ không phải người thân của tôi, và câu chuyện của Mẹ xảy ra trước khi tôi sinh ra rất lâu. Nhưng Mẹ đã sống, chiến đấu và hy sinh trên mảnh đất mà tôi gọi là nơi mình sinh ra. Chỉ riêng điều đó cũng khiến câu chuyện này đối với tôi không còn hoàn toàn là câu chuyện của một người xa lạ.
Tôi sinh ra quá muộn để chứng kiến buổi sáng ở Thanh Khê năm 1968. Nhưng tôi nghĩ mình vẫn còn kịp để biết về nó, kể lại nó và nhớ tên những người đã ở đó.Và có lẽ, như vậy đã là một cách để ký ức được đi tiếp.
Phạm Văn Nguyên - sdt: 0787649221


