ĐUÔNG CHĂN
Đầu năm 1970, Đại đội đặc công S20 (Quân khu 4) được tăng cường cho Mặt trận Trung Lào, nhận nhiệm vụ trinh sát và đánh chiếm cứ điểm Pà-kôn-kô (Khăm Muộn). Trên đường làm nhiệm vụ, tổ trinh sát bắt gặp cô gái Lào Đuông Chăn. Qua một tình huống thử thách đầy kịch tính bên suối, người lính Việt Nam giữ vững phẩm chất, từ đó chiếm được niềm tin của cô. Đuông Chăn tiết lộ anh trai là Khăm Xinh – lính đồn đào ngũ – đang lẩn trốn. Nhờ sự giúp đỡ của hai anh em làm nội ứng, đặc công ta đột nhập cứ đi
Đầu mùa khô năm 1970, đại đội đặc công mang phiên hiệu S20 của Quân khu 4, tăng cường cho Mặt trận Trung Lào, nhận lệnh tấn công cứ điểm Pà-kôn-kô, thuộc tỉnh Khăm Muộn, do Đại đội 3 của BV32 (tiểu đoàn ngụy Lào) chốt giữ. Cái khó của trận đánh này là cứ điểm nằm sâu trong hậu phương địch. Muốn tiếp cận tấn công nó, quân ta phải len lỏi qua một loạt điểm chốt dày đặc những toán thám báo, biệt kích, quân tuần tra đủ các sắc lính... Đó là chưa kể nhiều bản làng mà ta chưa thể nắm chắc được do địch "xúc" vào hay dân tự chạy theo địch, tạo thành một vành đai bao quanh Pà-kôn-kô. Tổ trinh sát Pà-kôn-kô được thành lập có tôi trong đó, do mũi trưởng mũi chủ yếu Nguyễn Duy Đễ làm toán trưởng, lập tức lên đường.
Mới đầu mùa khô, nên thỉnh thoảng vùng này vẫn còn những cơn mưa rớt. Suốt ba ngày chúng tôi xuyên rừng dưới những cơn mưa bất chợt ấy. Sang ngày thứ tư chúng tôi vượt qua con đường nhỏ gần bản Na Khèn, bỗng từ lùm cây ven đường, một cô gái đột ngột chui ra. Nhác thấy chúng tôi, cô gái hốt hoảng thét lên rồi bỏ chạy. Tình huống hết sức bất ngờ. Nếu để cô gái chạy thoát, biết đâu cô ta là tên chỉ điểm mà chúng tôi biết bọn địch vẫn tung ra vòng ngoài để phát hiện quân ta? Mũi trưởng Đễ khoát tay, và chẳng mấy khó khăn cô nàng đã bị chúng tôi tóm được. Dù ở trong tình thế dở mếu, dở cười, nhưng vốn là lính trẻ, ba chúng tôi ai cũng sửng sốt trước sắc đẹp của cô ả. Cô ả còn trẻ lắm, dễ thường chưa đến 20. Bộ "xôông xưa" (váy áo) ướt đẫm nước mưa dính sát vào người, hằn rõ những đường đẹp nhất của người con gái. Chiếc dây lưng gắn những cúc màu trắng bạc, ánh lên, bó chặt đường eo thon mềm như một nét vẽ. Làn da cô trắng mịn đến nỗi sau cơn mưa buổi sớm, màu rừng thẫm lại, thì khuôn mặt, đôi cánh tay, đôi chân trần của cô như đang phát sáng. Thấy ba chúng tôi cứ nhìn nhau mà chậc lưỡi, xầm xà xầm xì, cô gái run như dế, khuôn mặt mướt mát trông càng đẹp. Khám trong chiếc gùi nhỏ cô ta mang bên người chỉ thấy mấy vắt xôi to đùng được đùm cẩn thận trong lá chuối khô và mấy gói thịt rang mặn, thơm phức. Chúng tôi tìm mọi cách hỏi tên và tung tích cô ta, giở đủ ngón khai thác của dân trinh sát ra, nhưng cô nàng chỉ mím môi im lặng. Toán trưởng Nguyễn Duy Đễ bực mình quát: "Cô không biết tiếng Việt hay không biết tiếng người?". Cô nàng cũng chẳng lắc đầu...
Tình hình càng trở nên phức tạp, khi tĩnh trí lại, chúng tôi nhận ra trong đội hình của một tổ trinh sát đặc công không thể hiện diện một cô gái lạ. Một cô nàng im lặng như hòn đá, chẳng ra tù binh mà cũng chẳng phải đồng minh. Rồi ăn, ngủ, sinh hoạt, tránh địch của cánh lính trinh sát đặc công vốn được kẻ địch gọi là "ẩn hiện như ma" sao tiện? Bàn đi tính lại mai, toán trưởng Đễ đành nói nhỏ với tôi:
- Cậu phải đưa cô nàng trở lại hậu cứ giao cho Mặt trận để họ giao cho bạn thôi. Việc "điều nghiên" Pà-kôn-ko để bọn mình lo. Cậu đến sau vậy,- Rồi anh nhún vai - Cậu phải cẩn thận đấy! Giao cho cậu áp giải vài ba thằng lính địch tớ chẳng lo bằng áp giải nàng tiên rớt từ cung trăng xuống này đâu!
Tôi ngao ngán quá. Đen đủi đến thế là cùng! Ra đường gặp gái đã đành chịu rủi là một chuyện, đằng này phải dẫn một cô nàng chẳng biết rơi từ trên trời xuống hay từ dưới đất chui lên cả ngày ròng giữa rừng sâu núi thẳm! Thấy cô nàng lại cứ lầm lầm, lì lì, tôi ngứa mắt, xốc súng, xẵng giọng bằng tiếng Lào:
- Pay! (Đi!)
Cô nàng chẳng nói chẳng rằng lầm lũi đi trước mũi súng của tôi. Những lúc dừng chân, cô ta thỉnh thoảng lại len lén liếc mắt về phía tôi như dò xét. Hai chúng tôi - hai người tuổi trẻ, một trai, một gái - đi với nhau trong những vạt rừng lốm đốm nắng, xao xác lá rơi mà lạnh lẽo như hai kẻ ở hai hành tinh khác lạ. Quá trưa, tôi và cô ta gặp một con suối lớn. Con suối này rộng, giữa mùa khô có lẽ xắn quần lội qua được. Nhưng bây giờ mùa khô mới bắt đầu, đang còn mưa nên nước ngập đầu người, trông như một con sông, phải bơi mới qua được. Tôi nhìn cô ta, hất hàm hỏi cụt lủn bằng tiếng Lào:
- Hụ lòi bọ? (Biết bơi không?)
Cô ta lắc đầu. Lần đầu tiên tôi nghe cô ta nói, cũng cụt lủn chẳng kém gì tôi:
- Bọ hụ! (Không biết!)
Nhìn cô ta, lại nhìn dòng suối cuồn cuộn, tôi mới hoảng thật sự! Chết cha mình rồi! Bây giờ biết làm sao đây? Cô ta không biết bơi, thế nghĩa là mình phải dìu cô ta bơi qua. Nếu là bạn với nhau thì có ngượng nghịu tí chút nhưng còn được. Đằng này, cô nàng lai lịch hoàn toàn mù mờ, mà đã chắc gì cô ta không biết bơi. Ra giữa suối, nước xiết thế kia, lỡ cô ta chết đuối hay lặn một lèo mất hút thằng lươn, mình biết ăn nói sao với đơn vị? Tôi vừa loay hoay cho ba lô vào ni lông cột lại làm phao để bơi qua, thì cha mẹ ơi, ai dè cô ta đứng ngay bên tôi từ từ cỏi bỏ hết xống váy. Phơi tấm thân trắng nõn căng tròn. Đã thế, cô ta lại còn đi đến bên tôi ưỡn ngực, người oặn oẹo khiêu khích. Người tôi run bắn lên! Của đáng tội, từ lúc lớn lên, học hết phổ thông rồi vào bộ đội, tôi chưa hề trực diện nhìn một thân hình con gái lồ lộ, sát ngay bên mình thế này bao giờ. Mà cô ta lại đẹp như tiên mới chết chứ! Người tôi nóng phừng phừng, mồm miệng khô rát. Ghì chặt như bóp báng khẩu AK trong tay, như bấu víu vào đó để kháng cự lại ngọn lửa tôi chưa từng gặp bao giờ đang bốc cháy ngùn ngụt trong người. Chợt nòng thép khẩu AK chạm vào má lạnh buốt làm bản năng của người lính trinh sát đặc công trong tôi trỗi dậy. Cái nhún vai đầy ngụ ý của anh Đễ bất chợt hiện đến. "Đích thị cô này chẳng phải con nhà lành rồi! Cô ta đang là tù binh của mình mà cởi bỏ áo quần, trần như nhộng thế kia rõ là cô ta đang câu mình đây!". Nghĩ thế tôi liền đứng phắt dậy nói như quát:
Thôi đi cô! Đừng giở trò nữa! Chuẩn bị bơi qua suối!
Lạ lùng, nghe tôi quát, cô ta không hề tỏ ra sợ sệt, trái lại có vẻ hớn hở ra mặt. Khép nép mặc quần áo, cô ta nhìn tôi nhoẻn cười, nói thật dịu dàng:
- Phạ (trời) ơi! Thế là em biết anh rồi!
Nghe cô ta xưng em, anh với tôi bằng cái giọng mượt như nhung, tôi hoàn toàn bất ngờ. Lại còn định giở trò gì nữa đây? Tôi lùi lại. Thật tình, mặc dù đã dạn dày trận mạc, nhưng "đối mặt" với con gái, đặc biệt với một cô gái Lào, tôi chỉ là anh lính mới tò te. Thấy tôi cứ luýnh qua luýnh quýnh, cô gái bật cười:
- Thả hán (bộ đội) Việt hiền thật! Thì ra bọn họ nói vô thả hán Việt sai hết!
- Bọn họ là ai? Mà họ nói gì về chúng tôi? - Tôi luống cuống bật hỏi.
Cô gái không cười nữa:
- Bên Phu-mi, chậu Mường, Tà Xẻng đó! Họ nói bộ đội Việt tàn ác như con beo, con hổ, sang đây để cướp của, giết người. Gặp đàn bà, con gái, chẳng kể già hay trẻ là như con chó sói đực, vồ lấy liền!
Tôi cười méo mó. Cái vẻ lầm lì của cô gái không còn nữa. Cô nhí nhảnh:
- Thật lòng, em cởi váy áo trước mặt anh là để thử anh mà. Phò me (bố mẹ) em nghiêm lắm. Nhà em gần bến sông mà chẳng cho em tắm chung cùng trai bản bao giờ. Cũng thật là liều... Mà bộ đội Việt cũng lạ. Trước con gái trần truồng mà cứ yên lặng như hòn đá. Bộ đội Việt là người hay là Phật?
- Cô nhìn thì biết! - Tôi thở phào - Bộ đội Việt cũng như người Lào thôi. Mà cô liều vậy để làm gì?
- Để thử anh đó thôi. Người Lào có câu: "Hổ rằn ri ngoài da. Người rằn ri trong bụng!". Mới "bị bắt" giữa rừng, ai biết anh ra sao? Vì thế, lúc nãy em đã nói dối anh, nhà em gần sông Mè Khoóng (Mê Công), phò me em làm nghề chài lưới nên em bơi lặn giỏi lắm. Nếu lúc nãy anh vồ lấy em như con sói đực, thì khi bơi với em qua suối anh sẽ chết! Trong các cuộc thi bơi qua Mè Khoóng em chưa chịu thua ai, kể cả những trai bản bơi lặn giỏi nhất. Mường trên, bản dưới ai cũng gọi em là Đuông Chăn - Tu Nạk (rái cá). Anh mang ba lô, súng ông lỉnh kỉnh đầy người, vướng víu thế kia, ra chỗ nước sâu, em chỉ cần lặn xuống kéo chân anh là anh chết đuối thôi!
Tôi nghe mà sởn gai ốc. Nhưng nhân đà cô vui, tôi liền hỏi về sự có mặt kỳ lạ của cô ở vùng tranh chấp này. Cô kể rằng: Cô tên là Đuông Chăn, quê ở Pắc Xan. Rằng cô có một người anh trai tên là Khăm Xinh đóng quân ở Pà-kôn-kô. Chán ghét đời lính tay sai, anh đào ngũ đang trốn trong lèn Phà Kun. Ở Pắc Xan bọn lính Chậu Mường đang lùng ráo riết, nên mấy ngày nay anh chưa ra khỏi hang. Được một người bạn cùng trốn về báo, cô lên đây là để tiếp tế cho anh...!
Nghe lời cô kể, nhìn vào mắt cô, tôi biết cô gái không nói dối. Vừa thương người lính đào ngũ, vừa có một ý định táo bạo loé lên trong đầu, tôi nắm lấy tay cô:
Ta quay lại chỗ hang đá Khăm Xinh trốn đi. Đừng để anh ấy bị đói hay vì đói mò ra kiếm ăn rồi lại bị bắt. Anh ấy sẽ bị chúng hành hạ, khổ lắm cô ạ!
Đuông Chăn ngước nhìn tôi. Hình như cô muốn nói điều gì với tôi mà không nói được. Cô lặng lẽ gật đầu mà đôi mắt đen thăm thẳm thì ầng ậng nước...
Khi gặp nhau, nghe Đuông Chăn kể chúng tôi đến để cứu mình, Khăm Xinh xúc động lắm, cứ quỳ xuống chắp tay lạy chúng tôi vừa "khọp chay, khọp chay" liên tục. Hai anh em họ kéo nhau ra thầm thì điều gì đó rất lâu, đôi khi ngỡ như đang to tiếng. Một lúc sau, Khăm Xinh lặng lẽ đến nói với chúng tôi anh xin tình nguyện dẫn đường cho tổ trinh sát đột nhập căn cứ Pà-kôn-kô bằng con đường những người lính đào ngũ vẫn lẻn ra ngoài. Con đường bất ngờ nhất đã được họ tháo gỡ hết các loại mìn. Khăm Xinh còn xin được gặp và vận động những người bạn anh đang lừng chừng chưa dám bỏ trốn vì sợ tên trung úy Thao Mư đồn trưởng, nhân cơ hội này làm nội ứng, hiệp đồng với bộ đội ta, tiêu diệt cứ điểm, giải thoát cho mình.
Năm ngày sau, Đại đội đặc công S20 chúng tôi đột nhập vào Pà-kôn-kô, áp sát các mục tiêu mà kẻ địch chẳng hay biết gì. Gần đến giờ G, hết sức mau lẹ, tên trung úy Thao Mư đồn trưởng và mấy tên sĩ quan, binh lính ngoan cố bị Khăm Xinh và số anh em nội ứng trói gô lại. Số còn lại khi thức giấc mắt nhắm, mắt mở lồm cồm chui ra khỏi hầm đều bị chúng tôi bắt sống. Pà-kôn-kô được giải phóng, không hề mất một viên đạn, một mạng người nào...!
Trận đánh kết thúc, trên đường trở về nơi tập kết, Đuông Chăn ngập ngừng đến bên tôi. Tôi nhận ra một nét buồn mênh mang vương vít trên nét mặt thanh tú của em. Chúng tôi đứng bên nhau như những người bạn đã thân quen lâu lắm rồi. Bỗng đột ngột em ôm chầm lấy tôi, gục đầu vào ngực tôi, đôi mắt nhoà nước. Rồi đột ngột em buông tôi ra, quay người vội vã ù chạy. Tôi ngẩn ngơ nhìn theo dáng em nhoà dần trong rừng chiều Khăm Muộn...
Nhiều năm sau đó, dù cuộc chiến tranh giữ nước của hai dân tộc cuốn chúng tôi tới mỗi đứa một chiến trường, nhưng tôi và Đuông Chăn vẫn thường xuyên liên lạc với nhau. Tôi biết em và Khăm Xinh, anh trai của em đã nghe lời chúng tôi gia nhập Quân Giải phóng nhân dân Lào.
Rồi tôi chia tay với trận mạc, với đời trai trẻ, trở thành người cựu chiến binh già. Giữa đời thường cơm áo, chưa một lần tôi có dịp trở lại đất nước Lào để gặp em. Nhưng trong nhiều đêm bồn chồn khó ngủ, nằm nghe tiếng sóng sông Lam - dòng sông của quê hương tôi được hoài thai từ đất Lào - cồn cào chảy, bóng hình em bên con suối ngày nào; kỷ niệm về trận đánh không tiếng súng giải phóng Pà-kôn-kô năm ấy lại hiện về trong tôi mồn một.


