DƯƠNG ĐÌNH NGHỆ - NGƯỜI ANH HÙNG ĐẤT ÁI CHÂU
DƯƠNG ĐÌNH NGHỆ - NGƯỜI ANH HÙNG ĐẤT ÁI CHÂU
"DƯƠNG ĐÌNH NGHỆ - NGƯỜI ANH HÙNG ĐẤT ÁI CHÂU
Dương Đình Nghệ sinh ngày 10 tháng 10 năm Giáp Ngọ (874) là con thứ hai của cụ Dương Đình Thiện thuộc gia đình hào phú ở Long Vĩ, Châu Cổ Pháp, Bắc Ninh. Khoảng năm 894 di cư về làng Giàng, Dương Xá Châu Ái nay thuộc xã Thiệu Dương, thành phố Thanh Hóa.
Dương Đình Nghệ vốn là một hào trưởng ở Châu Ái, giàu có, nhiều thế lực, lại có lòng yêu nước thương dân, ngưỡng mộ sự nghiệp giành quyền tự chủ của họ Khúc và họ Khúc cũng phải dựa vào thế lực của ông để quản lý thâu suốt Ái Châu. Ông trở thành bộ tướng dưới trướng của Khúc Hạo và Khúc Thừa Mỹ.
Mùa thu năm 923, vua Nam Hán sai kiêu tướng Lý Khắc Chính đem quân đánh Giao Châu bắt được Khúc Thừa Mỹ đem về. Dương Đình Nghệ lấy tư cách là tướng cũ của Khúc Hạo tập hợp quân sĩ đánh bại Lý Khắc Chính. Lý Khắc Chính phải chạy về Nam Hán. Vua Nam Hán muốn chiêu dụ tạm phong tước cho Dương Đình Nghệ và bảo “Dân Giao Châu hay nổi loạn nên chỉ có thể ràng buộc lỏng lẻo mà thôi”.
Sau nhà Nam Hán sai Lý Tiến sang làm Thứ sử cùng với Lý Khắc Chính đóng giữ Giao Châu ở Tống Bình (Hà Nội). Nhưng quyền lực của bọn Lý Tiến và bè lũ thực tế không ra khỏi thành Tống Bình; ở các địa phương, các tướng lĩnh họ Khúc, các Hào trưởng vẫn giữ quyền cai quản nhân dân mình. Lợi dụng tước vị được tạm phong, Dương Đình Nghệ cai quản Ái Châu, ngày đêm quyết chí tiếp tục sự nghiệp khôi phục quyền tự chủ cho đất nước. Ông đã nuôi 3000 nghĩa sĩ, luyện tập võ nghệ chuẩn bị lực lượng tập hợp nhân tài về làng Giàng, Dương Xá, Thiệu Hóa, Thanh Hóa, biến nơi này thành trung tâm kháng chiến, nơi tụ nghĩa của các anh hùng hào kiệt: Ngô Quyền từ Đường Lâm (Sơn Tây), Đinh Công Trứ từ Trường Châu (Ninh Bình), Phạm Bạch Hổ từ Đằng Giang (Hưng Yên). Tất cả đã đưa gia quyến và lực lượng của mình hợp lực với Dương Đình Nghệ chuẩn bị chống giặc suốt một thời gian dài 9 năm (từ năm 923 đến 931).
Lý Tiến biết việc này, cho người về cấp báo với vua Nam Hán. Tháng 12 năm Tân Mùi (931), Dương Đình Nghệ liền kéo đại quân vây đánh Lý Tiến, chiếm thành Đại La, thủ phủ của quân Nam Hán. Mũi tiến quân chủ lực do Ngô Quyền chỉ huy, một mũi khác do Dương Tam Kha (con Dương Đình Nghệ) nắm đã kịp thời phối hợp với lực lượng của Đinh Công Trứ vây đánh quyết liệt Đại La. Thứ sử Lý Tiến vội cấp báo về Quảng Châu cầu cứu, vua Nam Hán sai Thừa Chí Trần Bảo đem quân cứu viện. Viện binh địch chưa sang đến nơi, thành Đại La đã rơi vào tay Dương Đình Nghệ. Tướng giặc Lý Khắc Chính bị giết tại trận, thứ sử Lý Tiến vội vàng phá vòng vây đem tàn quân tháo chạy về nước. Khi viện binh địch ồ ạt kéo sang, Dương Đình Nghệ chủ động rời thành đem quân phục kích những nơi hiểm yếu và tấn công các doanh trại dã ngoại của địch. Trước sự tiến công vũ bão của quân ta, quân Nam Hán hoàn toàn tan rã, tướng Trần Bảo bị giết, lực lượng còn lại bị quân ta truy kích chạy tán loạn về nước. Cuộc kháng chiến của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Dương Đình Nghệ đã thắng lợi trọn vẹn. Họ Dương đã khôi phục lại nền tự chủ của nước nhà.
Dương Đình Nghệ tự xưng là Tiết độ sứ cai quản đất nước. Năm 931, Ngô Quyền – con rể của Dương Đình Nghệ được cử trông nom Ái Châu, Đinh Công Trứ (Bố Đinh Bộ Lĩnh) được cử làm Thứ sử Châu Hoan. Với tầm nhìn chiến lược, sáng suốt trong 6 năm (931 – 937), ông đã tập trung sức lực xây dựng lực lượng kháng chiến về mọi mặt, tiếp tục thực hiện các cải cách dưới thời họ Khúc: tổ chức lại các cấp hành chính từ Trung ương xuống địa phương, vươn xuống tổ chức cơ sở của xã hội (giáp, xã) để tăng cường quyền lực của Nhà nước Trung ương; sửa lại chế độ điền tô, thuế má và lực dịch, bình quân thuế ruộng, xóa bỏ lực dịch, lập sổ hộ khẩu kê rõ quê quán, giao cho giáp trưởng trông coi. Về chính trị theo đạo lý của họ Khúc: “Chuộng khoan dung, giản dị, nhân dân đều được yên vui”. Bộ mặt đất nước bước đầu đã có chuyển biến thuận lợi, đời sống nhân dân dễ chịu hơn trước.
Điều đặc biệt là Dương Đình Nghệ đã chọn đúng các nhân tài và trao cho họ trọng trách xây dựng, cai quản Châu Ái, Châu Hoan để tạo thành lực lượng lớn mạnh, mưu việc lâu dài của đất nước. Nhưng không may, ông đã bị tên nha tướng Kiều Công Tiễn, người Châu Phong ám hại. Nhân dân vô cùng căm phẫn, nổi lên chống lại tên phản bội. Kiều Công Tiễn vội cho người cầu cứu Nam Hán. Khi nghe tin bố vợ bị Kiều Công Tiễn giết hại, nhà Nam Hán lại cho con là Vạn Vương Hoằng Thao đưa quân sang xâm lược nước ta, Ngô Quyền đã nhanh chóng tập hợp lực lượng, đem quân tiêu diệt kẻ phản bội bán nước và đón đánh quân Nam Hán.
Để đánh thắng quân xâm lược, ông đã cho bố trí một trận địa cọc nhọn, bọc sắt cắm xuống lòng sông Bạch Đằng. Tháng 10 năm Mậu Tuất (11/938) các chiến thuyền của giặc hùng hổ vượt biển, tiến vào sông Bạch Đằng. Lợi dụng lúc thủy triều lên, quân ta nhử cho thuyền giặc vượt qua trận địa cọc sắt, đợi cho nước thủy triều xuống, quân ta bắt đầu tiến công dữ dội, đánh vỗ mặt vào hai bên sườn, làm cho thuyền giặc phải tháo chạy đâm phải cọc nhọn bịt sắt, bị đắm gần hết. Hoằng Thao bị chém chết tại trận, quân ta giết và bắt sống hầu hết quân Nam Hán. Chiến thắng vang dội trên sông Bạch Đằng cuối năm 938 đã kết thúc hoàn toàn thời kỳ mất nước kéo dài hơn 1000 năm dưới ách thống trị của phương Bắc.
Chính nhờ có thế lực của Dương Đình Nghệ, đã tạo ra 6 năm cai quản đất nước và được Dương Đình Nghệ tin yêu, gả con gái là Dương Thị Như Ngọc và giao cho trọng trách, được rèn luyện thử thách nên Ngô Quyền (939-944), người anh hùng dân tộc đã làm nên sự nghiệp lớn lao, mở ra thời kỳ độc lập tự chủ lâu dài của đất nước ta. Có thể khẳng định rằng không có Dương Đình Nghệ và lực lượng của ông thì không có chiến thắng của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng cuối năm 938. Trong sự nghiệp chiến đấu vì nền tự chủ của nước nhà, bản thân Dương Đình Nghệ là một danh tướng dũng mãnh, mưu lược, kiên cường, bất khuất, nên khi mất, ở đền thờ ông có câu đối:
“Dưỡng tam thiên nghĩa sĩ, dĩ phục thù băng băng kinh khí
Chưởng bát vạn hùng binh nhi xuất chiến lẫm lẫm uy danh”
Tạm dịch:
“Nuôi ba ngàn nghĩa sĩ để phục thù bừng bừng khí dũng
Cầm đầu tám vạn quân xuất trận lẫm lẫm uy danh”
Tổng kết lại, Dương Đình Nghệ cùng các con trai, con gái, con rể và cả cháu gái (Dương Vân Nga), cháu rể Đinh Tiên Hoàng và Lê Hoàn (sau này) cùng 3000 con nuôi, đều dốc lòng vì nước, vì dân, bất chấp mọi gian khổ, hy sinh, trong hàng chục năm trời (từ 923 đến 938) lo xây dựng, củng cố lực lượng, đánh thắng giặc ngoại xâm, xây dựng nền tự chủ, độc lập nước nhà, kết thúc 1000 năm đô hộ của phương Bắc, làm rạng rỡ non sông, đất nước Việt. Đó cũng là một gia đình, một dòng họ vì nước có một không hai ở đất nước ta cách đây hơn 1000 năm. Dương Đình Nghệ thật sự là nhà chính trị, nhà quân sự lỗi lạc xuất chúng, có nhiều công trạng to lớn đối với đất nước, là một trong những người anh hùng đặt nền móng cho nền tự chủ, độc lập lâu dài của đất nước từ thế kỷ thứ X.
"



