DƯƠNG LOAN (1920 - 1999)
ồng chí Dương Loan, tên khai sinh là Dương Quy, thường gọi là Liên, khi tham gia hoạt động cách mạng có bí danh Phụng, sinh ngày 25 tháng 11 năm 1920 tại xã Long Bình, tổng An Hòa, phủ Tam Kỳ, nay là xã Tam Nghĩa huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, có tinh thần yêu nước, trong hai cuộc kháng chiến, gia đình có nhiều người tham gia cách mạng[1].
Cũng như bao thanh niên cùng thế hệ, sinh ra và lớn lên tại một vùng quê giàu truyền thống yêu nước, Dương Loan đã sớm chịu ảnh hưởng của phong trào vận động dân chủ Đông Dương năm 1936-1939 và chính thức được giác ngộ và bí mật tham gia hoạt động cách mạng từ tháng 02 năm 1938. Năm 1940, đồng chí được vinh dự đứng vào hàng ngũ của Đảng Cộng sản Đông Dương, sau đó, đồng chí được giao nhiệm vụ làm Bí thư chi bộ Việt Minh xã Tịch Tây, tổng Đức Hòa.
Cuối năm 1943, phong trào cách mạng ở Quảng Nam nói chung và Tam Kỳ nói riêng bị địch đánh phá ác liệt, nhiều cơ sở bị vỡ, nhiều đảng viên bị bắt, một số tổ chức Đảng tạm ngừng hoạt động, đồng chí Dương Loan bị địch bắt giam tại nhà lao Tam Kỳ. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9/3/1945), đồng chí được giải thoát khỏi lao trở về địa phương tiếp tục hoạt động cách mạng, cùng các cơ sở ở địa phương tổ chức xây dựng lực lượng tự vệ chuẩn bị khởi nghĩa theo chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Cách mạng tháng Tám thành công, đồng chí được cử làm Ủy viên Mặt trận Việt Minh xã Tịch Tây.
Là một thanh niên tràn đầy nhiệt tình cách mạng, là một người có kinh nghiệm trong hoạt động ở cơ sở, đồng chí đã đem hết khả năng để góp phần xây dựng và bảo vệ chế độ mới. Tháng 10 năm 1945, đồng chí gia nhập Quân đội Nhân dân Việt Nam, được cử làm Chính trị viên Trung đội thuộc Đại đội Phan Thanh, tỉnh Quảng Nam, trong đoàn quân Nam tiến chi viện cho chiến trường Nam Trung Bộ. Chưa tròn một năm tham gia quân đội, tháng 01 năm 1946 đồng chí được điều từ đơn vị tác chiến lên làm Chính trị viên Đại đội thuộc Tiểu đoàn Phan Châu Trinh, tỉnh Quảng Nam.
Ngày 22 tháng 5 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh đổi tên Vệ quốc đoàn thành Quân đội Quốc gia Việt Nam, nêu lên quy tắc về tổ chức, biên chế, quân phong, quân kỷ, lễ nghi của quân đội và chia cả nước làm 12 chiến khu. Theo sắc lệnh này, tại Quảng Nam - Đà Nẵng hình thành 2 Trung đoàn đó là Trung đoàn 96 và Trung đoàn 93 thuộc Đại đoàn 31. Để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta, tháng 8 năm 1946, đồng chí được điều làm cán bộ chính trị Trung đoàn 93, tổ chức phòng thủ chiến đấu phía nam sông Cẩm lệ, từ Non Nước, Mỹ Thị đến Cầu Đỏ, Trung Lương, bảo vệ hướng Đông Nam Đà Nẵng[2].
Tháng 4 năm 1948, 2 trung đoàn 93 và 68 sáp nhập lại thành Trung đoàn 108. Tháng 9 năm 1948 đồng chí được phân công làm Trưởng Ban chính trị Trung đoàn 108 đứng chân ở vùng đông các huyện Thăng Bình, Quế Sơn hỗ trợ cho dân quân du kích xây dựng làng chiến đấu, lập tuyến phòng thủ liên hoàn chống giặc Pháp ở phía bắc sông Bà Rén. Tháng 6 năm 1950, thành lập Trung đoàn 803, Bộ Tư lệnh Liên khu 5 quyết định điều đồng chí về làm Phó Chủ nhiệm cung cấp Trung đoàn chủ lực 803, Phó Bí thư Liên Chi uỷ chi bộ.
Tháng 6 năm 1951 đồng chí được giao nhiệm vụ làm Trưởng đoàn Dân công Liên khu 5; Phó trưởng Ban Dân công Mặt trận Xuân - Hè, tác chiến trên chiến trường An Khê thuộc tỉnh Gia Lai. Khi Mặt trận Hạ Lào mở ra, tháng 01 năm 1953, đồng chí được giao trọng trách Phó trưởng Ban cung cấp Hạ Lào - Đông Bắc Cao Miên; sau đó làm Chủ nhiệm cung cấp Trung đoàn 673, rồi Chủ nhiệm Chính trị Quân tình nguyện, trực tiếp chiến đấu ở chiến trường Hạ Lào, một chiến trường đầy gian lao, thử thách và khắc nghiệt.
Trong cuộc đời chiến đấu của mình, với khả năng nhạy cảm trong nắm bắt tình hình, linh hoạt trong xử lý tình huống, với tư tưởng cách mạng tiến công không khoan nhượng, đồng chí đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị của mình; trong cuộc sống đời thường đồng chí luôn chân thành, gần gũi với đồng chí đồng đội được cấp dưới quý trọng, cấp trên tin tưởng.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, tháng 10 năm 1954 đồng chí cùng đơn vị chuyển quân tập kết ra miền Bắc, chờ đợi 2 năm sau tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Đồng chí được cấp trên biên chế về công tác tại Quân khu Tây Bắc, làm Chính uỷ Trung đoàn 83 rồi Trung đoàn 673, thuộc Sư đoàn 335.
Sau một thời gian dài chiến đấu, cũng như trong công tác tổ chức lãnh đạo, huấn luyện xây dựng lực lượng quân đội chính quy, làm kinh tế góp phần xây dựng hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa, tháng 01 năm 1957, đồng chí được Quân khu Tây Bắc cử đi học văn hoá tại tỉnh Lạng Sơn, với quân hàm Thiếu tá, Bí thư chi bộ lớp học. Qua gần 2 năm miệt mài học tập, tháng 10 năn năm 1958 đồng chí được điều động về nhận công tác tại đơn vị cũ; tháng 10 năm 1959 đồng chí về giữ chức vụ Phó Trưởng phòng Cán bộ Quân khu Tây Bắc; tháng 10 năm 1960, đồng chí được cử đi đào tạo lớp lý luận chính trị Mác - Lênin, đường lối cách mạng miền Nam ở trường quân sự Trung cao cấp tại Hà Nội, Đảng uỷ viên nhà trường.
Sau gần 5 năm Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, nhưng Mỹ - Diệm ra sức phá hoại hiệp định, thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng miền Nam. Trước tình hình đó, tháng 01 năm 1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng tiến hành hội nghị lần thứ 15 và ra Nghị quyết 15 chỉ rõ: “Con đường cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân”, Nghị quyết của Trung ương và sự ra đời của đường Trường sơn (1959) trở thành bước ngoặt của phong trào cách mạng miền Nam nói chung, phong trào cách mạng trên địa bàn Liên khu 5 nói riêng.
Tháng 6 năm 1961, đồng chí được điều động về miền Nam, trực tiếp chiến đấu trên chiến trường Khu 5 đầy khó khăn gian khổ của thời kỳ đẩy mạnh võ trang khởi nghĩa giải phóng miền núi, mở rộng địa bàn, xây dựng căn cứ cách mạng, tiến tới giải phóng nông thôn đồng bằng. Lúc này đồng chí được phong quân hàm Trung tá, làm Phó Chủ nhiệm Hậu cần Quân khu 5.
Cuộc chiến đấu ở chiến trường Khu 5, mà đặc biệt là trên mảnh Quảng Nam máu lửa mỗi lúc một ác liệt. Ngày 20 tháng 02 năm 1962 Bộ Tư lệnh Quân khu 5 quyết định giải thể Ban quân sự trực thuộc Tỉnh uỷ, thành lập Trung đoàn 1 kiêm Tỉnh đội Quảng Nam, đồng chí Quách Tự Hấp, Trung đoàn trưởng kiêm Tỉnh đội trưởng, đồng chí Dương Loan là một cán bộ am hiểu địa bàn và có nhiều kinh nghiệm chiến trường, được quân khu điều về làm Chính uỷ Trung đoàn 1 kiêm Chính trị viên trưởng Tỉnh đội Quảng Nam.
Tháng 12 năm 1962, tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ V, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Đảng bộ, sau đó được bổ sung vào Ban Thường vụ Tỉnh uỷ. Trên cương vị công tác mới, đồng chí cùng với tập thể Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ lãnh đạo Đảng bộ và nhân dân Quảng Nam đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang đặc biệt là xây dựng cơ sở, phát triển lực lượng lớn mạnh; tổ chức lực lượng vũ trang tuyên truyền - diệt ác phá kèm mở rộng vùng giải phóng ở nông thôn miền núi, chuẩn bị cho một giai đoạn đấu tranh mới cực kỳ gay go, ác liệt góp phần đánh thắng chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - Diệm trên chiến trường Khu 5.
Tháng 3 năm 1964, khi cuộc chiến đấu chuyển sang giai đoạn cam go, ác liệt nhất, đồng chí được Bộ Tư lệnh điều về làm Chủ nhiệm Hậu cần Quân khu 5, được bổ sung làm Quân khu uỷ viên, trực tiếp làm Tổng đại diện Quân khu 5 chuẩn bị hậu cần - địa bàn đứng chân cho Mặt trận B3 (Mặt trận Tây Nguyên). Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, đồng chí được cử làm Chủ nhiệm chính trị Mặt trận B3.
Tháng 3 năm 1965, khi quân viễn chinh Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng, tháng 7 năm 1965, đồng chí được điều trở về Quân khu đảm nhận trọng trách phó Tham mưu trưởng Quân khu, Bí thư Đảng uỷ Phòng Tham mưu, Chủ nhiệm Hậu cần, Quân khu uỷ viên. Trong giai đoạn khó khăn, ác liệt này của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đồng chí đã thể hiện phẩm chất cao đẹp và năng lực xuất sắc của người cán bộ quân đội cách mạng tận trung với nước, tận hiếu với dân. Đồng chí hằng tâm niệm, hơn lúc nào hết, chính lúc này đây phải ra sức phấn đấu vượt trên gian khổ, hy sinh để đóng góp sức lực, trí tuệ cho cuộc chiến đấugiải phóng quê hương Quảng Nam cũng như miền Trung thân yêu.Đó là nguồn sức mạnh của anh Bộ đội cụ Hồ đồng chí đã cống hiến trọn cuộc đời mình cho hai cuộc trường chinh của dân tộc.
Cuối năm 1965, là Phó Tham mưu trưởng Quân khu 5, đồng chí được phân công làm Ủy viên Ban đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại miền Trung Trung bộ. Năm 1970, đồng chí được phong quân hàm Đại tá, và bổ sung vào Khu ủy viên Khu 5. Tháng 12 năm 1971 đồng chí trở lại cương vị Cục trưởng Cục Hậu cần Quân khu 5, rồi tháng 7 năm 1973, đồng chí về đảm nhận nhiệm vụ Phó Tư lệnh, Chính uỷ Đoàn 773 thuộc Quân khu 5. Đồng chí đã cùng tập thể Bộ Tư lệnh Đoàn 773, lãnh đạo xây dựng, phát triển kinh tế trên địa bàn miền tây Quảng Nam. Thực hiện chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Quân khu, khi Tây Nguyên được giải phóng, Bộ Tư lệnh Đoàn 773 nhanh chóng tổ chức tiếp quản các đồn điền, trang trại sản xuất của địch bỏ lại.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, miền Nam được giải phóng, nước nhà được thống nhất. Một nhiệm vụ quan trọng là toàn quân, toàn dân tập trung lao động sản xuất, khắc phục hậu quả chiến tranh. Trong tình hình mới, tháng 7 năm 1976, đồng chí được Bộ Tư lệnh Quân khu cử làm Cục trưởng Cục xây dựng kinh tế, tham mưu giúp cho Bộ Tư lênh Quân khu chỉ huy, quản lý các đơn vị chuyên làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế, góp phần xây dựng đất nước sau chiến tranh và cải thiện đời sống lực lượng vũ trang Quân khu. Tháng 12 năm 1977, đồng chí được bầu làm Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quân Khu 5, Trưởng ban Thanh tra Quân khu, phụ trách công tác Thanh tra, Quân pháp và Toà án Quân khu 5.
Trải qua 30 năm hy sinh xương máu trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, nhân dân ta muốn được sống hoà bình để xây dựng lại đất nước, nhưng kẻ thù mưu đồ làm “Việt Nam tiếp tục chảy máu” để dễ khuất phục. Tập đoàn Pôn Pốt - Iêng xa ri ở Cam-phu-chia từng bước chuyển bạn thành thù, phát động chiến tranh chống nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tháng 10 năm 1979, đồng chí đi chiến trường với quân hàm Đại tá, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng uỷ Quân khu, Trưởng ban Thanh tra Quân khu, phụ trách 3 cơ quan Thanh tra, Quân pháp, Toà án tham gia chiến dịch bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc.
Năm 1981, sau hơn 60 năm cuộc đời, gần 50 năm với tư cách là người lính đi suốt cuộc trường chinh của dân tộc, một phần do tuổi tác, phần khác do trong quá trình cống hiến cả tuổi thanh xuân của mình cho sự nghiệp cách mạng đồng chí được Đảng, Nhà nước cho nghỉ hưu. Trở về với cuộc sống đời thường an dưỡng sức khoẻ chưa được bao lâu, với kinh nghiệm được tích luỹ trong quá trình công tác, với sự hiếu biết sâu rộng và uy tín của người cán bộ Trung cao cấp Quân đội nhân dân Việt Nam, đồng chí được nhân dân tín nhiệm bầu làm Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phường An Hải Đông (nay thuộc quận Sơn Trà) thành phố Đà Nẵng. Đến năm 1985, đồng chí được cử làm Phó Chủ tịch Câu lạc bộ cán bộ hưu trí, thành phố Đà Nẵng.
Năm 1990, Đảng và Nhà nước chủ trương thành lập Hội Cựu chiến binh ở các cấp, với uy tín, năng lực công tác của mình, đồng chí được Hội Cựu chiến binh Trung ương chỉ định vào Ban Chấp hành lâm thời Hội Cựu chiến binh tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, giữ chức Phó Chủ tịch. Đồng chí cùng với các đồng chí trong Ban chấp hành lâm thời lãnh đạo, xây dựng, phát triển hội viên và tổ chức thành công Đại hội Hội cựu chiến binh các cấp. Tại Đại hội Hội Cựu chiên binh tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng lần thứ nhất đồng chí được đồng đội tín nhiệm cao, bầu vào Ban chấp hành, tiếp tục giữ chức vụ Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh và tại Đại hội lần thứ nhất Hội Cựu chiến binh Việt Nam, đồng chí được bầu làm Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương hội. Ngày 26 tháng 9 năm 1999, do tuổi cao sức yếu, đồng chí Dương Loan đã từ trần trong niềm tiếc thương của đồng chí, đồng nghiệp và gia đình.
Ghi nhận những cống hiến lớn lao cho sự nghiệp cách mạng của một sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, đồng chí được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý: Huy hiệu 60, 50, 40, năm tuổi Đảng; Huân chương Hồ Chí Minh; Huân chương Độc lập hạng Nhì; Huân chương Quân công hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng Nhất; Huân chương Chiến thắng hạng Nhì; Kỷ niệm chương Chiến sĩ tình nguyện quân Việt - Lào; 1 Kỷ niệm chương Chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày và nhiều bằng khen khác.
Là lớp cán bộ tiền khởi nghĩa, giác ngộ và tham cách mạng khi còn rất trẻ, trải qua bao nhiêu chiến trường, bao nhiêu trận đánh lớn, nhỏ, đến lúc trở thành người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, đồng chí Dương Loan luôn phát huy bản chất tốt đẹp của anh Bộ đội cụ Hồ nêu cao phẩm chất đạo đức cách mạng của người cán bộ đảng viên. Trên mọi cương vị công tác, bất luận trong hoàn cảnh nào, bao giờ đồng chí cũng thể hiện là một cán bộ năng nổ đi đầu, đầy trách nhiệm với công việc, được cấp trên tin tưởng, cấp dưới thương yêu tín nhiệm. Đồng chí đã có nhiều đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc nhất là trên các lĩnh vực công tác Đảng, công tác chính trị và công tác hậu cận trong quân đội. Đồng chí là một chiến sĩ cách mạng tận trung với nước, tận hiếu với dân; một tấm gương Cộng sản tiêu biểu trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà của quê hương Quảng Nam.
[1] Em trai là Dương Mô, bị mất một chân do bom của quân Pháp, nhưng vẫn tích cực làm hầm bí mật, nuôi dấu cán bộ trong thời kỳ 1954 - 1959, là cơ sở tin cậy của cán bộ, du kích vành đai diệt Mỹ, khi giặc Mỹ càn vào căn cứ Chu Lai; Dương Văn Nỳ, Dương Văn Nỹ đều tham gia quân đội nhân dân Việt Nam chiến đấu trên các chiến trường, là sĩ quan QĐNDVN. [2] Theo: Lịch sử Lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Quảng Nam tập 1 (1945 - 1954), kháng chiến chống thực Pháp 1945 - 1954, trang 77.


