DƯƠNG QUẢNG HÀM – NGƯỜI THẦY GIỮ NGỌN LỬA TRI THỨC GIỮA MÙA ĐÔNG 1946
Tháng 12/1946, Hà Nội bước vào những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến. Giữa tiếng súng và những con phố trở thành chiến địa, một nhà giáo đã không kịp trở về với gia đình. Ông là Dương Quảng Hàm, người dành phần lớn cuộc đời cho việc giảng dạy, nghiên cứu văn học dân tộc và xây dựng nền giáo dục Việt Nam.

Dương Quảng Hàm sinh ngày 14/7/1898 tại làng Phú Thị, vùng Văn Giang, Hưng Yên. Ông lớn lên trong gia đình có truyền thống Nho học. Người anh Dương Bá Trạc từng tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, một phong trào đề cao việc học và tinh thần yêu nước đầu thế kỷ XX.
Năm 1920, sau khi tốt nghiệp Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương, Dương Quảng Hàm bắt đầu giảng dạy tại Trường Bưởi, ngôi trường sau này mang tên Chu Văn An.
Trong hơn hai thập kỷ đứng lớp, ông nhận thấy học sinh Việt Nam cần những tài liệu có hệ thống để tìm hiểu văn học nước nhà. Khi ấy, việc nghiên cứu và giảng dạy lịch sử văn học Việt Nam bằng chữ Quốc ngữ còn đang trong quá trình hình thành.
Từ nhu cầu ấy, ông dành nhiều năm sưu tầm, nghiên cứu và biên soạn sách.
Năm 1941, công trình Việt Nam văn học sử yếu được công bố. Đây được xem là một trong những công trình đặt nền móng cho việc nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam bằng chữ Quốc ngữ. Một năm sau, ông tiếp tục xuất bản Việt Nam thi văn hợp tuyển, giới thiệu những tác phẩm tiêu biểu của văn học dân tộc.
Những cuốn sách ấy không chỉ phục vụ việc học trong nhà trường mà còn giúp nhiều thế hệ độc giả tiếp cận văn chương Việt Nam theo một hệ thống tương đối hoàn chỉnh.
Phía sau sự nghiệp của Dương Quảng Hàm còn có sự đồng hành của người vợ Trần Thị Vân. Trong khi ông dành nhiều thời gian nghiên cứu, viết sách và giảng dạy, bà chăm lo kinh tế gia đình, nuôi dạy tám người con.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Dương Quảng Hàm tiếp tục tham gia xây dựng nền giáo dục của nước Việt Nam độc lập. Ông đảm nhận trách nhiệm quản lý giáo dục và lãnh đạo Trường Bưởi trong giai đoạn đất nước đứng trước nhiều khó khăn.
Đến cuối năm 1946, tình hình Hà Nội ngày càng căng thẳng. Đêm 19/12/1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ.
Nhiều gia đình tìm đường rời khỏi thành phố. Nhưng theo những lời kể được gia đình và nhân chứng lưu giữ, Dương Quảng Hàm vẫn ở lại Hà Nội vì trách nhiệm công tác.
Trong những ngày chiến sự ác liệt sau đó, ông hy sinh khi mới 48 tuổi. Những tư liệu được công bố về sau xác định sự hy sinh của ông gắn với cuộc chiến đấu bảo vệ Hà Nội cuối tháng 12/1946. Gia đình nhiều năm không tìm được hài cốt của ông.
Sự ra đi ấy để lại khoảng trống lớn đối với người thân và nền giáo dục Việt Nam. Người vợ Trần Thị Vân tiếp tục nuôi dạy các con, gìn giữ ký ức về người chồng đã dành trọn tâm huyết cho sách vở và học trò.
Ngày nay, tên Dương Quảng Hàm được đặt cho nhiều trường học, tuyến đường. Những công trình nghiên cứu của ông vẫn được nhắc đến khi tìm hiểu lịch sử giáo dục và văn học Việt Nam.
Câu chuyện Dương Quảng Hàm cho thấy lòng yêu nước không chỉ thể hiện qua những trận chiến đấu, mà còn qua việc giữ gìn tiếng Việt, nghiên cứu văn hóa dân tộc và tận tụy với sự nghiệp giáo dục.



