DƯƠNG VĂN AN
anh sĩ, đại thần thời nhà Mạc
Dương Văn An sinh tại làng Tuy Lộc, nay là xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
Ông đỗ Đệ tam giáp tiến sĩ năm 1547, đời Mạc Phúc Nguyên; làm quan chức Lại Khoa đô cấp sự Trung, rồi thăng Tả thị lang Bộ lại, sau lên đến chức Thượng thư.
Ông có công nhuận sắc, biên soạn lại bộ sách Ô Châu Cận Lục, một công trình viết về núi sông, thành trì, phong tục, danh nhân miền Thuận Hóa (bao gồm các tỉnh Bình - Trị - Thiên và Bắc Quảng Nam).
Ông mất năm 1591, được tặng tước Tuấn Quốc công.
4. Đường số 4:
NGUYỄN CƯ TRINH
Danh sĩ; Danh tướng thời chúa Nguyễn
Nguyễn Cư Trinh, tên chữ là Nghi, hiệu Đạm Am, sinh năm 1716 tại xã An Hoà, nay là phường An Hòa, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông vốn có tài văn, võ; năm 1740, đỗ Hương cống (Cử nhân), làm quan đến Thượng thư bộ Lại, kiêm Tào vận sứ, tước Nghi Biểu Hầu. Ông nổi tiếng liêm chính, giỏi việc chính trị, doanh điền, ngoại giao.
Năm 1750, khi làm Tuần phủ Quảng Ngãi, ông có công đánh dẹp cuộc nổi dậy chống triều đình ở Đá Vách (người dân tộc khởi loạn). Năm 1853, được cử vào miền Nam khai hoang lập ấp, thu cả miền đồng bằng sông Cửu Long về cho Đại Việt.
Thơ văn ông được truyền tụng nhiều, gồm một số bài thơ chữ Hán và chữ Nôm, đặc sắc nhất là: Vè Sãi vãi, Quảng Ngãi thập nhị cảnh, Đạm Am thi tập và mười bài họa Hà Tiên thập cảnh vịnh...
Ông mất năm 1767, hưởng thọ 51 tuổi.


