Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Đường về đất mẹ

Đồng chí Thiếu tướng Võ Sở - nguyên Phó tư lệnh, Bí thư Đảng ủy Binh đoàn Trường Sơn, là một trong những cán bộ cao cấp đã gắn bó khá nhiều năm với tuyến chi viện chiến lược Đường Hồ Chí Minh - Đường Trường Sơn. Trong mười năm tham gia mặt trận nóng bỏng đầy gian khổ, hy sinh ác liệt này, đồng chí đã trải qua nhiều cương vị quan trọng, từ Trưởng phòng Tổ chức đến Chính ủy binh trạm, Phó chủ nhiệm chính trị Bộ Tư lệnh, Chính ủy Sư đoàn và sau khi kết thúc kháng chiến chống Mỹ là Chính ủy Binh đo

Lai Châu03/07/2026thiếu tướng võ sở (xã nậm mạ)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
THƯA CÙNG BẠN ĐỌC

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quyết định mở tuyến vận tải quân sự Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh và thực hiện thắng lợi quyết định đó là một sáng tạo chiến lược của Đảng, quân đội và nhân dân ta. Đường Trường Sơn là một kỳ tích, là một nhân tố có ý nghĩa quyết định chiến lược đối với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


Cuộc kháng chiến chống Mỹ đã qua một phần tư thế kỷ. Độ lùi thời gian cùng những nhân tố khác cho phép chúng ta có cái nhìn đầy đủ hơn vai trò của đường Trường Sơn đối với sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ. Nhiều công trình lịch sử, nhiều tập hồi ký của cá nhân... lần lượt ra đời tái hiện chặng đường 16 năm tồn tại, cống hiến của tuyến đường và tinh thần kiên dũng, chiến công tuyệt vời của những người lính Trường Sơn, những nam nữ thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, văn nghệ sĩ, các nhà khoa học... từng sống và chiến đấu ở Trường Sơn. Tuy vậy, dựng lại bức tranh toàn cảnh hoành tráng, kỳ vĩ của kỳ tích Trường Sơn còn cần đến tâm sức, cố gắng của nhiều người, nhiều thời gian...


Là một người con của miền Nam đất Việt, may mắn được sống, chiến đấu hơn mười năm trên tuyến đường mang tên Bác - con đường giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, tôi xin được xâu chuỗi những mẩu hồi ức của mình trong tập "Đường về đất Mẹ" những mong góp một phần nhỏ khắc họa toàn cảnh đường Trường Sơn thời đánh Mỹ và khí phách anh hùng, tinh thần chiến đấu vô cung dũng cảm, bất chấp đạn bom, chết chóc, thiếu thốn, tật bệnh, tinh thần lạc quan cách mạng, lòng tương thân tương ái, nghĩa tình đồng chí đồng đội cao đẹp... của những người lính Trường Sơn; nghĩa tình tiền tuyến, hậu phương, tình quân dân, tình đoàn kết quốc tế.


Mong đồng đội, bạn bè từng một thời gắn bó máu thịt với Trường Sơn nhận những dòng hồi ức tản mạn của tôi như những dòng tâm sự, sẻ chia bao niềm vui, nỗi nhớ. Xin hương hồn những đồng chí, đồng đội đã ngã xuống vì sự sống của đường Trường Sơn đón nhận những dòng hồi ức ngắn ngủi của tôi như một nén hương lòng!


Trường Sơn rộng mênh mông, đường Trường Sơn - Đường về đất Mẹ như "Trận đồ bát quái xuyên rừng rậm", với bao kỳ tích, bao con người anh hùng, mà những gì tôi biết, tôi nhớ lại chẳng là bao. Vậy nên, sai sót là khó tránh khỏi. Rất mong đồng chí, đồng đội, bạn đọc lượng thứ và bổ khuyết.


Chân thành cảm ơn Bộ Tư lệnh Binh đoàn 12, nhiều đồng đội, bạn bè đã động viên, giúp đỡ để tôi hoàn thành tập hồi ức của minh. Chân thành cảm ơn đồng chí Đồng Sĩ Nguyên - nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn đã động viên, góp ý và viết lời giới thiệu cho tập hồi ức của tôi.


Cảm ơn đồng chí Nguyễn Duy Tường đã giúp thể hiện tập hồi ức này. Cảm ơn Nhà xuất bản Quán đội nhân dân đã tạo điều kiện thuận lợi để tập hồi ức nhỏ nhắn của tôi đến với bạn đọc nhân dịp kỷ niệm 55 năm thành lập nước Việt Nam mới.


VÕ SỞ

Logged

vnmilitaryhistory

Moderator
*
Bài viết: 2636


Đường về đất mẹ« Trả lời #2 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2021, 05:03:06 pm »
I. MIỀN NAM GỌI

Hiệp định Giơ-ne-vơ ký kết. Đình chiến! Dẫu biết chiến tranh đã vào hồi kết kể từ khi quân Pháp đại bại ở Điện Biên Phủ; nhưng, tin vui đến như cơn lốc - nhanh không ngờ; đúng vào lúc Tiểu đoàn 19 chúng tôi vừa kết thúc thật giòn giã trận đánh giao thông ngày 17 tháng 7, tại đèo Chư Đrêk trên đường 14, quãng giáp giới hai tỉnh Đắc Lắc và Gia Lai. Chỉ vẻn vẹn chưa đầy một giờ, Tiểu đoàn 19 Trung đoàn 108 chủ lực Liên khu 5 chặn đánh quân Pháp từ thị xã Buôn Ma Thuột chạy qua Chư Đrêk để chi viện cho thị xã Plây Cu. Quân địch ở Plây Cu bị bao vây, bị diệt và bắt gần 500 tên, phá hủy hơn 60 xe quân sự. Đây là trận phục kích giao thông thứ hai thắng lợi của Tiểu đoàn 19. Cùng với chiến thắng vang dội của Tiểu đoàn 19 và Trung đoàn 96 chủ lực Liên khu 5 vào ngày 25 tháng 6, phục kích giao thông đánh tan GM100 - binh đoàn cơ giới thiện chiến của Pháp ở đèo Măng Giang, đường 19, chiến thắng của Tiểu đoàn 19 là những đòn đánh bồi, đánh nhồi, góp phần hạ gục nhanh kẻ địch ở chiến trường Liên khu 5, Tây Nguyên.


Khói súng chưa tan. Bộ đội đang hối hả thu chiến lợi phẩm - cơ man là xe pháo. Chúng tôi nhận được thông báo của chỉ huy trung đoàn rằng: Ngày 22 tháng 7, Hiệp định đình chiến có hiệu lực - Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam ban bố lệnh ngừng bắn trong cả nước. Tiểu đoàn khẩn trương hành quân về Bình Định, chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới. Không còn nghi ngờ gì nữa. Từ cán chí quân reo vang, tưởng nổ trời. Có chiến sĩ không kìm nổi vui mừng đã lia luôn mấy loạt đạn chỉ thiên - một kiểu "ăn mừng" đúng chất lính; mặc dù cán bộ tiểu đoàn đã can ngăn, thậm chí "đe" sẽ kỷ luật nặng.


Trải 9 năm kháng chiến trường kỳ với bao mất mát, hy sinh, trăm bề gian khổ, thắng lợi mà ta giành được là to lớn; niềm vui là vô bờ bến. Tuy nhiên, là người lính chứng kiến sự tan rã hoàn toàn của địch trên chiến trường, nhiều anh em ý chừng chưa thỏa nguyện. Bơi lẽ, chiến dịch giải phóng Tây Nguyên - Đông Xuân 1953-1954 phối hợp với chiến trường chính Bắc Bộ, đang phát triển hết sức thuận lợi. Chủ lực Liên khu 5 đã giải phóng hoàn toàn tỉnh Công Tum, phần lớn tỉnh Gia Lai, một phần phía bắc tỉnh Đắc Lắc; đang bao vây thị xã Plây Cu, cắt đường tiếp tế của chúng. Khả năng giải phóng hoàn toàn tỉnh Đắc Lắc và tiếp đó là toàn bộ Tây Nguyên nằm trong tầm tay. Ở vùng đồng bằng duyên hải Trung Bộ, các lực lượng chống chiến dịch Át Lăng của địch nống ra nam Phú Yên và đổ quân lên Quy Nhơn, Bình Định cũng phát triển tốt, chặn đứng được cuộc hành binh của chúng... Cứ đà này thắng lợi có thể lớn hơn...! Nếu nhìn cục bộ, trước mắt có thể là như vậy. Nhưng, với tôi, cái cục bộ phải nằm trong cái toàn cục, trong tầm nhìn chiến lược của Đảng, của Bác Hồ.


Nhận được lệnh hành quân, chúng tôi quyết định đi bằng ô tô lấy được của địch. Lái xe là số ít cán bộ, chiến sĩ biết nghề, thiếu thì trưng dụng số tù binh là lái xe bắt được trong trận đèo Chư Đrêk vừa rồi. Trong bộn bề công việc và mặc dù thời gian quá gấp, nhưng bộ đội vẫn lục tìm bằng được vải đỏ, vải vàng lấy của địch để may cờ Tổ quốc.


Đội hình hành quân, mỗi xe chở một trung đội. Xe nào cũng cắm một lá cờ đỏ sao vàng. Lần đầu tiên được hành quân bằng cơ giới, lại hành quân về xuôi trong ngày toàn thắng, khó tả nổi nỗi vui mừng của bộ đội. Suốt cả lộ trình, bộ đội hát vang bài "Tiến quân ca".

Khi đoàn xe chúng tôi hùng dũng tiến qua thị xã Plây Cu, nơi quân Pháp và khinh quân ngụy còn chiếm giữ, chúng đều đổ ra đường ngơ ngác đứng nhìn. Dân chúng cũng ào ra đường, nhưng chưa hiểu hết sự tình, lại thấy kẻ địch bên cạnh, không mấy người dám vẫy chào. Khi bộ đội hô vang: Đã có Hiệp định Giơ-ne-vơ, ngừng bắn rồi! Bà con mới nhất loạt hò reo: "Hoan hô ngừng bắn", "Hồ Chủ tịch muôn năm"...


Rời Plây Cu, suốt quãng đường hơn 200 cây số về nơi tập kết, mỗi khi qua vùng dân cư đông đúc, chúng tôi lại chứng kiến, đắm mình trong không khí mừng vui, xúc động khôn tả.

Tới Bình Định, theo lệnh triệu tập, tôi cùng một vài anh em cán bộ tiểu đoàn, trung đoàn về ngay cơ quan chính trị Liên khu nhận công tác mới. Không ai bảo ai, hết thảy đếu phấn khởi nhưng không khỏi bồn chồn, thấp thỏm, ở cơ quan Liên khu, chúng tôi được phổ biến nội dung Hiệp định Giơ-ne-vơ, trọng tâm là việc hai bên tập kết lực lượng ở hai miền, lấy vĩ tuyến 17 - sông Bến Hải làm giới tuyến quân sự tạm thời. Lực lượng kháng chiến của ta tập kết từ vĩ tuyến 17 trở ra Bắc. Phía Liên hiệp Pháp tập kết từ vĩ tuyến 17 trở vào. Liên khu 5 lấy Quy Nhơn làm vị trí tập kết cuối cùng - khu vực 300 ngày. Các lực lượng kháng chiến của Liên khu ra Bắc theo trình tự: nơi xa đi trước, nơi gần đi sau.


Theo Hiệp định Giơ-ne-vơ, tổng tuyển cử tự do trong cả nước được tiến hành sau 2 năm kê từ khi Hiệp định đình chiến có hiệu lực. Theo đó, toàn thể nhân dân Việt Nam sẽ quyết định chế độ xã hội của mình. Tuy vậy, trong khi phổ biến nội dung hiệp định đình chiến, các đồng chí lãnh đạo Liên khu cũng nói rõ với chúng tôi nhận định của Trung ương Đảng ta, rằng: Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, chiến tranh kết thúc được quyết định bởi thắng lợi to lớn mà quân và dân ta giành được trên khắp các chiến trường trong cả nước, đặc biệt là chiến thắng Điện Biên Phủ. Về thi hành hiệp định, phía Pháp đã chấp hành nghiêm lệnh ngừng bắn, tích cực chuyển quân tập kết. Còn việc tổng tuyển cử có thể sẽ rất khó khăn, vì bản chất ngoan cố của kẻ địch, nhất là đế quốc Mỹ. Trước đây Mỹ đã trực tiếp nhúng tay vào chiến tranh ở Đông Dương. Khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, mặc dù là một thành viên của cuộc hòa đàm này, nhưng tổng thống Mỹ Ai-xen-hao đã ngang ngạnh tuyên bố: Mỹ không chịu sự ràng buộc bởi các điều khoản của Hiệp định.


Dẫu biết tổng tuyển cử thống nhất đất nước là rất mong manh, nhưng trong tâm khảm những người con miền Nam tập kết ra Bắc đều mong sau hai năm sẽ trở về quê hương, về với gia đình. Với niềm tin mãnh liệt và niềm mong mỏi đó, chúng tôi dồn mọi cố gắng cho chuyến ra đi.


Tháng 8 năm 1954, theo quyết định của Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh, Liên khu 5 thành lập hai đại đoàn chủ lực (sang năm 1955 đổi tên thành sư đoàn). Sư đoàn 305 gồm ba trung đoàn bộ binh: 108, 96, 210 và một trung đoàn pháo. Sư đoàn 324 cũng biên chế ba trung đoàn bộ binh: 120, 803, 812 và một trung đoàn pháo.


Lễ thành lập Sư đoàn 305 của chúng tôi được tiến hành tại sân bay thị xã Quảng Ngãi. Tư lệnh Sư đoàn là anh Nguyễn Đôn - nguyên Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Liên khu 5. Phó tư lệnh là anh Nguyễn Bá Phát - nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 108. Chính ủy sư đoàn là anh Nguyễn Quyết - nguyên Phó chủ nhiệm Chính trị thứ nhất Liên khu. Tôi được điều về làm trợ lý Ban Tổ chức sư đoàn, do anh Nguyễn Nam Khánh làm Trưởng ban.

Logged

vnmilitaryhistory

Moderator
*
Bài viết: 2636


Đường về đất mẹ« Trả lời #3 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2021, 05:04:11 pm »
Tháng 10 năm 1954, Sư đoàn 305 được lệnh chuẩn bị tập kết ra Bắc. Để lên đường đúng thời hạn quy định, mọi công việc chuẩn bị được triển khai rất khẩn trương, từ việc ổn định biên chế tổ chức, bàn giao một số vũ khí cho các đồng chí được phân công ở lại cất giấu để chủ động đối phó khi đối phương "trở mặt"... Hoàn tất mọi việc, các đơn vị hành quân về đóng ở các huyện phía nam Bình Định để lần lượt xuống tàu biển tại cảng Quy Nhơn. Cơ quan Sư đoàn 305 đóng tại Hoài Nhơn - Bình Định.


Trước ngày xuống tàu, cán bộ, chiến sĩ được phép về thăm nhà ba ngày. Đường từ Hoài Nhơn về tới nhà tôi gần bảy chục cây số. Để kịp thời gian, tôi vừa đi vừa chạy từ chiều hôm "nhận phép" và suốt đêm hôm đó, để mờ sáng hôm sau đã có mặt ở nhà trước sự ngỡ ngàng, sửng sốt của người thân.


Vẻn vẹn hai ngày ở nhà, tôi tranh thủ dọi lại mái tranh, sửa sang lại chuồng gà, chuồng lợn...; làm hết thảy những gì có thể giúp mẹ, vợ và chị, bởi nay mai thiếu vắng bàn tay đàn ông.


Mỗi lần nhắc chuyện tôi đi xa, mẹ tôi lại mủi lòng, kéo vội vạt áo lau nước mắt. Bởi lẽ, mẹ cũng đã được cán bộ xã phổ biến đại thể về Hiệp định Giơ-ne-vơ, về khả năng tổng tuyển cử rất mỏng manh... Mẹ thương tôi sức vóc có chừng, khó quen với khí hậu ngoài Bắc, nghe đồn lạnh lẽo lắm.


Còn tôi, cố giấu nỗi lo, nén xúc động để nước mắt lặn vào trong. Bởi biết rồi đây quê hương tôi thuộc quyền kiểm soát của địch. Chắc rằng gia đình có người đi kháng chiến, đi tập kết, khó bề yên thân. Hết nội, tôi chạy sang bên ngoại thăm mẹ vợ và anh chị em bên vợ. Như mẹ đẻ, mẹ vợ cũng dặn tôi gắng giữ gìn sức khỏe, yên tâm ra Bắc phấn đấu bằng anh bằng em. ở nhà, mẹ con bâu túm lấy nhau. Mẹ sẽ chăm nom, động viên vợ tôi... Mẹ còn bảo mẹ là đảng viên, rồi đây chắc chắn địch sẽ gây khó khăn. Nhưng chi bộ cũng đã họp bàn thống nhất sơ bộ phương pháp đấu tranh.


Tôi cũng tranh thủ qua thăm họ hàng, bà con thân thích, tâm tình gửi gắm xóm giềng đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau khi hoạn nạn, khó khăn, lúc tối lửa tắt đèn, nhất là khi đối phương vào tiếp quản.

Chút thời gian ít ỏi tôi về thăm, không khí gia đình thật đầm ấm, hạnh phúc. Năm đó Diện - vợ tôi mới 21 tuổi. Chúng tôi vừa lập gia đình được hơn bảy tháng. Cưới xong là đi. Trận đánh này kéo theo chiến dịch khác. Vợ chồng tính gọn được dăm ngày bên nhau.

Lúc tôi tạm biệt gia đình, cả nhà đều tấm tức. Các cháu nhỏ con anh trai tôi vừa khóc, vừa níu chặt ba lô. Nhìn mẹ già, cháu nhỏ không muốn rời, tôi không cầm được lòng, đành bước thật nhanh. Diện tiễn chân tôi xuống ga Thủy Thạch. Dọc đường em giành mang ba lô giúp tôi. Bộ đội Liên khu 5 lúc đó được trang bị một chiếc ba lô bằng vải si ta, may thành bốn mảnh. Khi sử dụng, xếp quần áo, đồ dùng cá nhân vào giữa rồi buộc lại, gọn gàng nhỏ nhắn như hình chiếc bánh gai - Dân quê tôi vui gọi là "Ba lô bánh ít". Tranh thủ chút thời gian đợi xe goòng (ô tô ray), Diện tìm mua vội cho tôi bộ quần áo lót, lọ dầu chống lạnh, một ít bánh kẹo để vào đơn vị làm quà cho anh em. Xe goòng chuẩn bị rời ga, Diện dặn lại tôi rằng: Cứ yên lòng ra Bắc, trông cho chóng ngày về, hai năm hay bao lâu em vẫn đợi!


Cuối cùng thì giờ phút tạm xa quê hương, tạm xa miền Nam cũng đến. Tôi đi chuyến đầu tiên với cơ quan sư đoàn trên tàu Kilinsky của hải quân Ba Lan.

Trong cuộc đời mỗi con người có biết bao lần đi xa. Với tôi cũng vậy, có lần nhớ, có lần đã thuộc về dĩ vãng. Tuy vậy, đã ngót gần nửa thẽ kỷ trôi qua, nhưng tôi không sao quên được lần chia tay đầy ắp kỷ niệm, thấm đẫm nghĩa tình này.

Một sáng tháng 10, gió mùa về. Biển động. Tàu rúc một hồi còi dài chào đất liền. Sóng lớn. Tàu lắc lư, chao đảo. Mặc, hết thảy chúng tôi tràn lên đứng chật boong tàu. Ai cũng giơ cao hai ngón tay làm hiệu, như thề nguyền nhắn gửi với đất Mẹ, với người ở lại rằng hai năm nữa chúng tôi sẽ trở về.


Vừa đúng một tuần sau khi ra Bắc, bộ đội "chân ướt chân ráo" về tập trung tại Tĩnh Gia, Thanh Hóa, Sư đoàn 305 vinh dự được đón Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào thăm. Nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ sư đoàn tại sân vận động huyện Tĩnh Gia, Đại tướng Tổng tư lệnh nhiệt liệt biểu dương thành tích của quân và dân Liên khu 5 trong kháng chiến chống Pháp - đặc biệt là chiến công của các đơn vị chủ lực Liên khu. Đại tướng thông báo những nét chính của Hiệp định Giơ-ne-vơ và giao nhiệm vụ cho Sư đoàn khẩn trương củng cố tổ chức, huấn luyện tốt, đồng thời tham gia vận động nhân dân, chống địch cưỡng ép giáo dân di cư vào Nam. Đồng chí Võ Nguyên Giáp ân cần dặn dò:

Có Hiệp định Giơ-ne-vơ, không phải là hết chiến đấu chống kẻ thù, mà phải còn chiến đấu nữa mới giành được thắng lợi hoàn toàn. Tổng Quân ủy, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập hai sư đoàn chủ lực từ các đơn vị chủ lực Liên khu 5, hai sư đoàn chủ lực của Nam Bộ cùng các sư đoàn chủ lực khác ở miền Bắc là nhằm xây dựng quân đội ta mạnh hơn, đủ sức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ mới, cho dù có tổng tuyển cử được hav không.


Sau những ngày tập kết ở các huyện nam Thanh Hóa, Sư đoàn 305 rải ra đóng quân ở ba tỉnh: Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam Định. Bộ đội chủ yếu ở nhờ trong nhà dân. Vừa khẩn trương ổn định sinh hoạt, Sư đoàn vừa tổ chức lực lượng tham gia chống địch cưỡng ép giáo dân di cư vào Nam. Địa bàn được phân công là Ba Làng (Thanh Hóa), Phát Diệm (Ninh Bình), Bùi Chu (Nam Định). Mỗi nơi, Sư đoàn sử dụng một tiểu đoàn. Riêng ở Bùi Chu, về sau phải huy động cả trung đoàn. Tôi được phân công là thành viên ban chỉ đạo Tiểu đoàn 30 trực tiếp chống địch cưỡng ép giáo dân ở Ba Làng - một làng công giáo toàn tòng ở Thanh Hóa.


Chống địch cưỡng ép giáo dân di cư cũng là một cuộc chiến đấu võ cùng phức tạp, quyết liệt. Bộ đội vừa phải tuyên truyền giải thích cho nhân dân về chính sách đại đoàn kết dân tộc, chính sách đoàn kết lương giáo của Đảng và Nhà nước ta; động viên giáo dân ở lại xây dựng quê hương, xây dựng chế độ mới; vừa phải đối phó với một số không ít những kẻ quá khích bị kẻ địch lợi dụng, kích động dùng vũ khí, hung khí hành hung bộ đội. Trong khi đó, bộ đội tuyệt đối không được sử dụng vũ khí, chỉ chống đỡ bằng tay. Cũng vì vậy, không ít trường hợp bộ đội phải đổ máu, thậm chí thương vong.


Dù là khó khăn, nhưng do kiên trì thuyết phục vận động nhân dân, phân loại và kiên quyết tiến công bọn phản động, nên sau gần nửa tháng, Sư đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ chống địch cưỡng ép di cư. Đa phần nhân dân ở lại quê hương, ổn định dần cuộc sống.

Chỉ non nửa tháng đấu tranh chống địch cưỡng ép giáo dân di cư vào Nam, chúng tôi cũng đã ý thức được cuộc chiến đấu mới đang đến với nhân dân và quân đội ta sẽ cam go, quyết liệt đến nhường nào!

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn