ĐƯỜNG VỀ NAM
Tháng 3 năm 1961, tác giả cùng Đoàn Phương Đông 2 bí mật hành quân vượt dãy Trường Sơn trở về chiến trường miền Nam. Suốt hơn năm tháng băng rừng, vượt núi, vượt sông trong điều kiện vô cùng gian khổ, đoàn phải đối mặt với những trận phục kích, thiếu lương thực, bệnh tật và sự hy sinh của đồng đội, nhưng vẫn giữ vững kỷ luật, tinh thần đoàn kết và quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Nhờ sự giúp đỡ tận tình của lực lượng liên lạc và đồng bào các dân tộc trên tuyến đường chiến lược, đoàn đã vượt qua mọ
Từ trạm đầu tiên này bắt buộc hành quân bằng đường bộ vượt Trường Sơn theo đường mòn đến từng trạm. Trèo núi liên tục, hết núi này sang núi khác, họa hoằn lắm mới có một khoảng rừng bằng phẳng. Có núi dốc đứng, trán người đi sau đụng gót chân người đi trước. Mỗi người đều chặt một đoạn mây rừng uốn cong một đầu làm gậy chống để tăng thêm lực cho đôi chân. Có ngọn núi càng lên cao càng lạnh, đỉnh núi nằm trong mây. Với trọng lượng mang từ 25 đến 30 ký mà phải leo dốc, mọi người đều mồ hôi nhễ nhại. Thỉnh thoảng được tạm nghỉ 10 phút mà gặp khí hậu mát mẻ, người dễ chịu, khỏe lại ngay. Nhờ vậy mà hết ngày này đến ngày khác cứ lên đỉnh lại xuống đèo, mà vẫn vượt qua được.
Bí mật là một yêu cầu cao trong quá trình hành quân. Thông thường, đoàn phải theo dường mòn do liên lạc là một người dân tộc dẫn dường, có đoạn là một em nhỏ cũng người dân tộc, cắt rừng đi mà không được để lại dấu vết. Lương thực dựa vào các rẫy khoai, mì của đồng bào là cơ sở cách mạng trồng, có trạm được tiếp tế ít gạo. Khi có điều kiện nấu ăn thì không được để khói nhiều. Có một lần đoàn được Hà Nội tiếp tế gạo và nhu yếu phẩm bằng máy bay thả bao, rơi tự do xuống đất ở đoạn hành quân sang biên giới Lào. Hàng ngày, đoàn đều phải điện báo cáo với anh Văn (Đại tướng Võ Nguyên Giáp) vào 21 giờ.
Khoảng tháng 5, miền núi đã bắt đầu có mưa. Qua sông, suối luôn gặp rất nhiều khó khăn Ba phân đội của đoàn hành quân đi cách nhau hai tiếng để không bị ùn lại khi leo núi hoặc khi qua suối, qua sông. Phân đội 1 của tôi đi đầu đến sông Xêrêpốc gặp nước lớn phải vượt sông bằng bè tre. Chỉ với hơn 30 người vượt sông mà từ sáng sớm đến 9 giờ chúng tôi mới qua hết, giao bè lại cho Phân đội 2. Chúng tôi về đến lán nghỉ thì đã hai giờ chiều. Mọi người đang căng võng nằm nghỉ tạm sau một chặng đường dài hành quân vất vả thì anh Lê Hoàng Lâu, Tham mưu trưởng của đoàn, cùng đi với Phân đội 2 chạy đến lán báo tin: Phân đội 2 sau khi vượt sông Xêrôpốc, hành quân được một đoạn thì bị địch phục kích. Do chủ quan có Phân đội 1 đi trước, cả phân đội cứ thế mà đi, mất cảnh giác nên bị địch đánh bất ngờ, hy sinh 9 đồng chí, bị thương 1 đồng chí.
Lập tức, anh Hồng Lâm ra lệnh tất cả theo anh quay trở lại giúp Phân đội 2, chỉ để lại một tổ giữ đồ đạc.
Đêm đó, Phân đội 1 và Phân đội 2 chôn cất tử sĩ đến sáng mới xong. Cả hai phân đội thay nhau mang đồng chí bị thương đến tận 8 giờ sáng hôm sau mới về tới lán nghỉ.
Việc đầu tiên là điện báo cho Phân đội 3 cắt đường khác mà đi vì đường đi theo kế hoạch đã bị lộ. Lúc này, Phân đội 3 đi sau nghe tiếng súng đã dừng lại. Nhận được điện, Phân đội vòng đường khác, đoàn cũng báo cáo với anh Văn việc bất trắc vừa xảy ra và hạ quyết tâm đi tới. Mãi 10 ngày sau các Phân đội mới gặp lại nhau.
Trước đau thương mất mát của Phân đội 2 và 1 đồng chí bị thương phải để lại trạm, cả đoàn như lặng đi, không tiếng nói cười. Ban chỉ huy đoàn quyết định dừng lại một ngày. Anh Hồng Lâm tổ chức lập bàn thờ, mặc niệm các đồng chí vừa hy sinh. Ngay trước bàn thờ, anh cho họp đoàn lại.
- Địch đánh Phân đội 2 - anh Hồng Lâm phán đoán có thể là bọn phỉ ở Lào, không phải ngụy Sài Gòn. Vì nếu là ngụy Sài Gòn, lẽ nào chúng đánh ta rồi lủi mất? Nhưng dù thế nào thì hướng hành quân của đoàn đã bị lộ. Từ đây, phải tăng cường cảnh giác. Tổ chức hành quân cần chu đáo, có tiền vệ, đi thưa, đụng địch nằm tại chỗ chiến đấu, phải tổ chức tấn công tới, không chạy lùi, dồn cục nếu không sẽ có thương vong lớn.
Anh Hồng Lâm quyết định nhập hai phân đội thành một đội hình hành quân (vẫn giữ nguyên chỉ huy hai phân đội). Sau đó anh điện chỉ đạo Phân đội 3 cắt rừng đi đường vòng, không đi theo đường Phân đội 1 và 2, rồi anh điện báo cáo với anh Văn đoàn vẫn tiếp tục hành quân.
Chặng đường từ Xêrêpốc đến đường 14 đều an toàn do cảnh giác cao, tổ chức hành quân chặt chẽ dù địch có ra sức chặn đánh. Tổ chức đường dây liên lạc tốt để giữ bí mật hai đầu, có trạm giữa để hai bên bàn giao đoàn rồi quay lại. Có một chặng đoàn bị địch phục kích, địch bắn bị thương đồng chí liên lạc từ phía Nam ra đón. Vị trí liên lạc đều không đến chỗ giao nhận như thỏa thuận được, nên cứ sáng đoàn hành quân, trưa đến điểm hẹn là một gốc cây, hay một cục đá to theo quy ước của trạm - nếu không thấy liên lạc đến đón thì đoàn lại quay về chỗ cũ. Cứ như vậy, hết 10 ngày vẫn chưa bắt được liên lạc, gạo gần hết, khoai mì ở rẫy cũng sắp hết.
Ban chỉ huy họp đoàn đánh giá tình hình: có thể trạm phía Nam đã bị lộ phải dời đi, chưa ổn định nên chưa đến vị trí liên lạc. Cũng có thể tình huống xấu nhất là anh em đã hy sinh. Và đoàn hạ quyết tâm: bất cứ giá nào cũng khắc phục để lên đường, phải về đến miền Nam. Khó khăn chính là vấn đề lương thực, sau đó là tổ chức bắt liên lạc. Chuẩn bị phương án cắt rừng theo góc phương vị. Ra nghị quyết mỗi người phải giữ ba lít gạo không được ăn, đó là lương thực phục vụ cho chặng đường phải cắt rừng sắp tới.
Từ ngày thứ 11 trở đi, cử một tổ đến chỗ hẹn bắt liên lạc. Vấn đề gay go lúc này là hết gạo, gạo dự trữ mỗi người ba lít thì không được đụng đến. Theo kinh nghiệm nhiều năm hoạt động ở rừng miền Đông Nam Bộ thời chống Pháp của anh Hồng Lâm, anh đi tìm một bụi khoai chụp, lấy toàn bộ dây đem về, cắt ra từng đoạn hai tấc, đem chia cho từng người và hướng dẫn cách đào. Toàn đoàn tỏa ra đi tìm và đào củ chụp. Từng tổ hai người thay nhau đào bằng dao găm, bằng cây vạt nhọn, đào liên tục, đủ cho hai người ăn trong ngày và dự trữ cho ngày hôm sau.
Đến ngày thứ 15 cũng chưa bắt được liên lạc với trạm phía Nam. Củ chụp cũng bắt đầu khó kiếm. Không thế nấn ná được nữa, đã đến lúc phải thực hiện phương án cắt rừng.
Sáng sớm hôm sau, toàn đoàn bắt đầu hành quân. Đoạn từ trạm phía Bắc đến điểm giữa thì đi theo đường cũ, có hai liên lạc của trạm cùng đi. 11 giờ, đoàn nghỉ ăn cơm, củng cố quyết tâm, chỉnh lại đội hình, bắt đầu cắt rừng theo góc phương vị.
Một đồng chí đi trước chặt cây dọn đường, đồng chí kế tiếp cầm la bàn hướng dẫn. Đồng chí thứ ba, thứ tư sẵn sàng súng đạn yểm trợ khi cần. Cứ thế, đoàn đi 50 phút lại nghỉ 10 phút. Đến 3 giờ chiều, tổ cắt rừng phát hiện có dấu vết người ở trong một hốc đá.
Nghi ngờ là người của ta, anh Hồng Lâm trao đổi với hai đồng chí liên lạc. Đồng chí liên lạc người dân tộc đưa tay lên miệng hú gọi. Mừng không kể xiết, nghe có tiếng trả lời.
Đồng chí liên lạc dẫn tổ đi đầu đến chỗ có tiếng trả lời mới biết các đồng chí từ trạm phía Nam ra bị địch phát hiện bắn bị thương một người. Các anh dìu nhau trốn vào rừng không đến chỗ hẹn được, cũng không trở về trạm cũ được do đường đi đã bị địch phát hiện. Đồng chí còn khỏe mạnh đào củ, lấy măng ăn tạm qua ngày và chăm sóc cho đồng chí bị thương.
Người dân tộc khi đã giác ngộ cách mạng rất trung thành, rất tận tâm và chung thủy. Khi gặp hoạn nạn không bao giờ bỏ nhau. Có lần, tôi trò chuyện với đồng chí liên lạc còn rất trẻ, mới 17, 18 tuổi, hỏi lúc mở đường đầu tiên trên rừng núi này đồng chí đi bằng cách nào. Đồng chí trả lời:
- Theo hướng mặt trời. Ngày đi, đêm leo lên cây chọn chỗ có chạc hai lấy dây bó vào cây mà ngủ để tránh gặp cọp, voi. Lương thực là măng tre và củ rừng. Cứ vậy một mình đi, có khi đi hàng 7 ngày, 10 ngày...
Gương anh em liên lạc người dân tộc được đoàn đem ra sinh hoạt trong các chi bộ. Chính tấm gương của các đồng chí ấy đã củng cố thêm quyết tâm của toàn đoàn.
Bắt được liên lạc, đoàn tổ chức khiêng đồng chí bị thương đưa về lán trại phía Nam. Từ đây, đoàn không phải cắt rừng theo góc phương vị nữa mà nối vào đường dây đi tiếp.
Càng vào sâu phía Nam, rẫy khoai mì của đồng bào dân tộc càng ít đi, lương thực càng khó khăn. Có đồng chí ăn măng không chịu nổi, ăn vào là ói ra hết, như anh Hai Hương - sau này về T67/Quân khu 7 - phải tranh thủ đào củ mà ăn, anh Tốt, người to như bồ tượng – sau này về Long Đất, Bà Rịa. Đói quá, đêm anh lén lấy gạo (trong số ba lít gạo buộc phải giữ) để nấu ăn. Có đồng chí phát hiện, phản ánh. Tôi là Bí thư buộc phải đưa chi bộ kiểm điểm mà trong lòng xót xa vô cùng. Nếu không vì nhiệm vụ cách mạng, tôi cũng không cam lòng nhìn đồng chí mình vất vả, thiếu thốn. Lòng căm thù giặc càng cao.
Khi đoàn đến trạm bắc đường 14 - Bà Rá, có ý kiến đề xuất: nhân lúc vượt đường, ta tổ chức kiếm lương thực luôn. Ý kiến này bị bác bỏ ngay.
- Đã giữ bí mật hai phần ba đoạn đường, phải giữ bí mật đến cùng.
- Đã đói dài còn chịu được, bây giờ phải chịu được.
- Lúc này hơn lúc nào hết đã tới đích rồi, phải vươn lên tới đích.
Đoàn lại âm thầm, lặng lẽ, bí mật vượt qua đường 14.
Sau hơn 5 tháng, từ tháng 3 đến đầu tháng 9 năm 1961, cuối cùng đoàn cũng đến Căn cứ R tại đồi 300 Bình Long.
Phân đội 1 của tôi cùng anh Hồng Lâm được bổ sung về T1 (Quân khu 7 bây giờ). Đưa nhau về đến Đất Cuốc giữa lúc T1 vừa chiến thắng vang dội trận Phước Thành hôm mùng 9 tháng 9. Khắp vùng, từ Đất Cuốc đến Mỹ Lộc, Thường Long, đâu đâu cũng một không khí hồ hởi, phấn khởi khiến chúng tôi càng náo nức. Toàn phân đội được lệnh đóng quân ở Suối Cái.
Sau mấy tháng đói khát, lần đầu tiên được nấu cơm với bao nhiêu gạo cũng được. Tôi cho ba lon sữa bò gạo vào cái hăng gô vuông, khi sôi lên cạn nước, sợ không chín, tôi đặt hăng gô sát xuống than và trở đi trở lại mấy phía. Sau mấy tháng đói dồn, ai cũng thèm một bữa cơm no.
Trong đời tôi có lẽ bữa cơm hôm ấy là bữa cơm ngon nhất và cũng nhiều nhất. Chỉ ăn với muối tiêu trộn bột ngọt mà tôi ăn một hơi hết ba lon sữa bò gạo.
Một bữa cơm rất ngon lành!


