Gia Đình, Bạn Bè Và Đất Nước - (Hồi ký - Nguyễn Thị Bình); Trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp
Tháng 7 - 1945, cả gia đình tôi có mặt tại Sài Gòn. Những ai đã sống qua thời ấy đều biết, theo tiếng gọi của non sông, mọi người dân Việt Nam đều muốn có mặt. Ba tôi tham gia ngay Chi đội I miền Đông vì sẵn có bạn bè ở đó. Còn tôi, các chú gọi làm việc gì thì làm việc nấy. Một hôm có người nhắn tôi đến Nhà hát lớn Sài Gòn để gặp đồng chí Hà. Tôi tưởng sẽ gặp một nhà cách mạng đạo mạo, hóa ra là một người còn rất trẻ, nhiều lắm cũng chỉ khoảng 30 tuổi. Sau này được biết đồng chí là kỹ sư canh nô
Tháng 7.1945, cả gia đình tôi có mặt tại Sài Gòn. Những ai đã sống qua thời ấy đều biết, theo tiếng gọi của non sông, mọi người dân Việt Nam đều muốn có mặt.
Ba tôi tham gia ngay Chi đội I miền Đông vì sẵn có bạn bè ở đó. Còn tôi, các chú gọi làm việc gì thì làm việc nấy. Một hôm có người nhắn tôi đến Nhà hát lớn Sài Gòn để gặp đồng chí Hà. Tôi tưởng sẽ gặp một nhà cách mạng đạo mạo, hóa ra là một người còn rất trẻ, nhiều lắm cũng chỉ khoảng 30 tuổi. Sau này được biết đồng chí là kỹ sư canh nông, tham gia phong trào Việt Minh từ sớm.
Công việc đầu tiên đồng chí Hà giao cho tôi là tham gia đón tiếp đại diện của lực lượng đồng minh Anh-Ấn đến Sài Gòn để giải giáp quân Nhật, vì đồng chí nghe nói tôi biết tiếng Anh. Đại diện của lực lượng đồng minh tôi tiếp xúc chủ yếu là người Anh, còn quân Ấn và cả một số lính lê dương chỉ làm nhiệm vụ canh gác.
Lần đầu tiên phải nói tiếng Anh với người Anh tôi hết sức lúng túng, nhưng ngại nhất là họ chỉ hỏi tôi về các nơi giải trí, nhảy đầm, những việc tôi hoàn toàn không biết, nên làm mấy ngày tôi xin thôi. Đồng chí Hà lại giao cho tôi một việc khác - sau này tôi hiểu đó là công tác tình báo - theo dõi một số nhân vật, xem họ làm gì, đi đâu. Đối với công việc này tôi cũng không quen nên chẳng theo dõi và điều tra được ai...
Tháng 7, tháng 8.1945, Sài Gòn sống những ngày sôi nổi. Ngày đêm người xe đi lại rầm rập. Những toán thanh niên tiền phong tập đi một, hai, hát vang bài Lên đàng của Lưu Hữu Phước. Đúng là không khí của “tiền khởi nghĩa”. Tấp nập nhưng hết sức trật tự, mọi người dường như nghe, cảm được hơi thở nóng hổi của một sự kiện trọng đại sắp nổ ra.
Sáng sớm ngày 2.9, hầu như tất cả nhân dân đều đổ ra đường. Tôi cùng hai em trai lớn cũng kéo về hướng quảng trường Nhà thờ Đức Bà, nơi chúng tôi được biết sẽ diễn ra sự kiện vô cùng quan trọng: đại diện của Chính quyền Cách mạng, Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ ra mắt đồng bào.
Nhưng, cuộc tập hợp vừa xong thì từ dãy nhà của cha cố người Pháp có tiếng súng bắn vào đám đông. Cuộc tập hợp quần chúng trong hòa bình biến thành một cuộc nổi dậy của quần chúng. Không khí căng thẳng tràn ngập thành phố. Rõ ràng thực dân Pháp không cam chịu rút lui, chúng đang dùng mọi cách, kể cả chiến tranh, để chiếm lại Việt Nam. Đúng là quân Anh-Ấn của đồng minh đã giúp quân Pháp trở lại. Các cửa ngõ vào thành phố do quân Anh-Ấn canh gác không phải để giải giáp quân Nhật mà để ngăn chặn cuộc chiến đấu của chúng ta. Lập tức các lực lượng Việt Minh bắt đầu triển khai phương án tác chiến.
Tôi được giao nhiệm vụ chuyển mấy cây súng ngắn ở nội thành ra ngoại thành. Chúng tôi đều hăng hái thực hiện mọi nhiệm vụ, bất chấp hiểm nguy. Lúc này mọi người, đặc biệt là thanh niên, chỉ nghĩ đến hai từ Độc lập và Tự do của đất nước. Hai tiếng Độc lập và Tự do sao mà thiêng liêng!
Ngày 23.9, quân Pháp công khai gây hấn với Việt Minh. Súng đã nổ khắp nơi trong thành phố.
Ba tôi đi liên lạc với anh em ở Chi đội 1, chỉ còn tôi và mấy em nhỏ ở nhà thờ Cụ Phan bên Đa Kao. Nghe tiếng nổ xung quanh, tôi và hai em trai lớn bàn nhau lấy cây súng ngắn của ba tôi còn cất ở nhà, bảo nhau nếu quân địch xông vào nhà thờ thì chị em phải bắn, nhất định không để chúng bắt. May mà chúng chỉ đi qua, chúng tôi không phải dùng súng. Thật ra chị em chúng tôi cũng chưa bao giờ cầm cây súng, càng không biết bắn. Kể cả sau này đi kháng chiến, tôi cũng chưa học được cách bắn súng!
Mấy ngày sau, nhân dân thành phố lần lượt tản cư ra ngoại thành, tỏa về các tỉnh. Chúng tôi cũng tản cư về Lái Thiêu, nơi ông anh họ tôi có trang trại. Các em nhỏ tôi phải ở lại đấy, còn ba và ba chị em lớn chúng tôi bắt đầu tham gia kháng chiến, mỗi người một việc. Em thứ tư của tôi, là con trai, còn nhỏ nhưng rất gan dạ, được ba cử sang Campuchia chuyển một số thuốc nổ về cho công binh xưởng vừa hình thành để làm lựu đạn và mìn. Còn tôi và cậu em kế về Hồng Ngự, tỉnh Đổng Tháp, chuyển thực phẩm cho lực lượng vũ trang của ta ở miền Đông chuẩn bị chiến đấu. Các anh em họ tôi ở Sài Gòn, anh Hồng, anh Cống, anh Nông... cũng đều tham gia các tổ chức kháng chiến.
Ba tôi rất hiền nhưng đôi khi cũng nổi nóng, những lúc đó chúng tôi đều rất sợ. Sau khi mẹ tôi mất, ba tôi quan tâm nhiều hơn đến sinh hoạt của tôi, khuyến khích tôi học, chăm lo cho các em, chơi thể thao, nhưng không cho phép tôi đi hoạt động buổi tối. Vậy mà khi tổ chức cử tôi từ Sài Gòn đi về Hồng Ngự để làm công tác tiếp tế cho bộ đội (em thứ ba của tôi đã đi trước), ba tôi dẫn tôi đến bến cảng Sài Gòn. Ở đó, tàu, ca nô tấp nập, đầy ắp người. Ba tôi đi tìm hiểu tình hình một lúc rồi bàn với tôi phải đi từng chặng một, xuống Mỹ Tho rồi tìm ca nô về Hồng Ngự sau. Cho tôi đi một mình, cả hành trình như vậy, chắc ba tôi lo lắm, nhưng lúc này, việc nước là trên hết. Tôi cũng rất lo, từ trước đến giờ đã có khi nào phải xông pha thế này đâu! Nhưng thấy ba băn khoăn, tôi nói cho ông yên tâm: “Không sao đâu ba, con đi được mà!”
Tôi xuống tàu, trong tàu đã có độ 30 người ngồi sẵn. Hình như họ là dân lục tỉnh lên Sài Gòn giờ trở về quê. Không một ai quen, tôi ngồi co ro một chỗ, suốt đêm không dám ngủ. Sáng hôm sau đến Mỹ Tho, mọi người lên bờ. Tôi chưa hề đến Mỹ Tho nên chưa biết sẽ hỏi ai tàu về Hồng Ngự. Tôi đi rảo rảo ở đường, hỏi thăm cơ quan Việt Minh đóng ở đâu? Rất may gặp lại đồng chí Hà, và sau đó gặp một người bạn cũ thời ở Campuchia. Thế là tiếp tục chuyến đi về Hồng Ngự. Đến nơi mới biết anh họ tôi về đó làm ăn một thời gian, đã được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến quận Hồng Ngự. Tôi rất mừng đã đi đến nơi đến chốn an toàn, nhưng khi bàn tới nhiệm vụ được giao là chở ruốc thịt bò về tiếp tế cho miền Đông thì lại rất gay: ngay sau khi tôi rời Mỹ Tho, Pháp đã chiếm thị xã này, rồi chiếm tiếp Sa Đéc, Châu Đốc. Đường về Sài Gòn đã bị nghẽn. Tôi phải ở lại Hồng Ngự một thời gian, làm thư ký cho Ủy ban Kháng chiến địa phương nhờ đó được tham dự cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam độc lập tại Hồng Ngự. Đúng ngày 6.1.1946, mọi việc chuẩn bị đã sẵn sàng, chu đáo, nhân dân nô nức kéo ra trụ sở ủy ban để bắt đầu sự kiện lớn, thì nghe có tiếng máy bay từ xa đến. Có người chạy ra nhìn, hô to: Máy bay ta! Máy bay ta! Nhưng liền đó một loạt bom rơi xuống. Hóa ra là máy bay Pháp đi phá bầu cử. Hơn mười người chết và bị thương. Nhưng buổi chiều cuộc Tổng tuyển cử vẫn được tiến hành.
Tôi phải ở lại Hồng Ngự đến tháng 5.1946. Pháp đã chiếm hầu hết các thành phố và thị xã lớn. Lực lượng kháng chiến rút về nông thôn, ở lại thành phố chỉ còn những cơ sở tiếp tục hoạt động bí mật. Ba tôi nhờ người đi đón hai chị em tôi từ Hồng Ngự về lại Sài Gòn. Cả gia đình lại tụ họp đông đủ ở nhà thờ Cụ Phan, nhưng chúng tôi không còn công khai được nữa. Nhiều gia đình bạn bè của ba tôi từ Campuchia về cũng cùng hoàn cảnh. Nhiều người không có nhà ở Sài Gòn đã đến ở cùng chúng tôi.
Lúc này chúng tôi rất khó khăn về tài chính. Dành dụm được ít tiền, ba tôi đã bỏ ra hết để xây nhà ở Phnom Penh, khi về nước đành giao lại cho mấy người bà con trông nom giùm. Để nuôi sống mấy chục con người ở Đa Kao, chúng tôi phải làm đủ nghề, kể cả nghề đi súc chai ở các xí nghiệp. Thấy bên cạnh nhà thờ Cụ Phan có mấy căn phố, tôi mở tiệm bán gạo, nước mắm và đủ thứ linh tinh như trứng vịt, cà chua, hành tỏi. Một số ông tham tán, kỹ sư sẵn sàng cùng ba tôi đi “thồ” gạo, trứng vịt từ chợ Cầu Ông Lãnh về cho tôi bán. Sài Gòn lúc này âm ỉ một không khí ngột ngạt và chờ đợi, người ta vừa lo cuộc sống qua ngày, vừa phập phồng chờ một điều gì đó sẽ đến, chưa rõ rệt, có thể hiểm nguy nhưng lại nóng lòng mong đợi. Không ai nói ra thật rõ ràng, nhưng đó là tâm trạng chung, ở người công nhân lao động cũng như người trí thức.
Tới giờ, các em tôi vẫn còn thích nhắc lại chuyện “chị Hai đi buôn cà chua ở chợ Tân Định”. Để bán được hàng nhiều thì phải ra ngồi ở chợ Tân Định, cách nhà hơn một cây số. Tôi vốn không quen gánh gồng nên đi vài chục thước đã phải đổi vai, đến nơi mướt mồ hôi. Ở chợ thường có một anh lính Tây lai đi thu thuế, có cảnh sát Tây đi kèm, hay kiểm tra giá cả. Một hôm chị bạn bán trứng vịt ngồi cạnh tôi đã phải giằng co với một cô đầm lai đến mua hàng. Giá “nhà nước” một trứng là 16 xu, nhưng chúng tôi mua tại gốc đã hơn 20 xu, nên bán lại ít nhất phải 25 xu. Viên cảnh sát quản lý thị trường đến can thiệp buộc chị bạn tôi phải bán mấy chục trứng theo giá “nhà nước”. Chị òa lên khóc. Tôi không cam lòng nên đã giở tiếng Pháp ra đối đáp với viên cảnh sát. Mọi người ngơ ngác. Tay cảnh sát và cô đầm lai cũng bất ngờ. Hai người nhìn nhau rồi bỏ đi. Chị em ở chợ cảm ơn tôi rối rít. Nhưng sau vụ đó các anh chị trong tổ chức không cho tôi ra bán hàng ở chợ Tân Định nữa.
Cuối năm 1946, nhiều gia đình quê miền Bắc tìm cách trở về Hà Nội lúc đó còn chưa bị Pháp chiếm đóng. Nhưng rồi chẳng bao lâu sau toàn quốc kháng chiến nổ ra. Lửa chiến tranh bùng cháy trên cả nước.
Đầu năm 1947, để củng cố thế lực, quân Pháp ra sức khủng bố, đàn áp. Ở Sài Gòn, nhất là về đêm, luôn có những cuộc ruồng bố lùng bắt những người kháng chiến. Đền thờ Cụ Phan Châu Trinh ở số 13 Gallimard bị chúng lùng sục đến mười ba lần. Mấy lần ba tôi bị chúng bắt đi, tra tấn. Chị em chúng tôi ở nhà thương và lo cho ba, càng nung nấu căm thù địch. Cuối năm 1947, theo lệnh trên, ba tôi không còn ở thành phố được nữa, phải ra bưng biền 1. Tôi phải ở lại vừa đi làm gia sư kiếm tiền nuôi các em vừa hoạt động. Một thời gian sau, tổ chức thấy tôi ở mãi đền thờ Cụ Phan sẽ bị lộ, cần phải thoát ly đi nơi khác. Tôi đành bàn với ông anh họ là một doanh nhân yêu nước dọn đến đây ở để tôi gửi các em sống cùng. Thương các em quá, mà chẳng còn cách nào khác, chỉ có thể thỉnh thoảng ghé qua thăm. Có lần tôi về, thấy đứa em út sốt cao, nằm co ro dưới bàn thờ ông ngoại, thật hết sức đau lòng. Đã có lúc tôi nghĩ hay là mình đừng thoát ly nữa để các em có người chăm sóc, dạy dỗ, nhưng rổi lại phải cố nén tình cảm mà vượt qua để tiếp tục hoạt động.
Tôi hoạt động bí mật ở Sài Gòn dưới cái vỏ ngoài là một cô giáo dạy tư. Tôi đã dạy Toán cho nhiều nhóm học sinh luyện thi, và có một thời gian dạy ở Trường Colette, là một trường Tây, dạy bằng tiếng Pháp. Hiệu trưởng là chị Nở, bạn tôi; học sinh phần lớn là con các quan chức của chính quyền Sài Gòn và con các gia đình khá giả.
Cuối năm 1946, tôi được giao nhiệm vụ tổ chức Hội Phụ nữ Cứu quốc, bắt đầu là ở hộ 5, nơi gia đình tôi sống, rổi từng bước được cử lên Hội Phụ nữ Cứu quốc thành phố. Bạn cùng lớp hoạt động lúc bấy giờ có chị Nga, chị Hữu Bích, các chị Đạt, Hạnh, Tư Kiều, nhưng thân thiết nhất với tôi là Duy Liên 2. Duy Liên cùng tuổi với tôi, nhanh nhẹn, sắc sảo, đặc biệt có khuôn mặt rất trẻ. Khi hai chúng tôi bị bắt Liên khai sụt sáu tuổi, “là vị thành niên”, địch cũng tin. Hai chị lớn hơn là chị Bảy Huệ 3, sau này là vợ đồng chí Nguyễn Văn Linh 4, người thủ trưởng kháng chiến đầu tiên của tôi, và chị Chín Châu. Tôi rất quý chị Bảy Huệ, người chị rất hiền hậu, đã chăm nom, dặn dò, bày vẽ cho tôi nhiều điều trong quan hệ với quần chúng. Chị thường bảo các chị em khác: “Yến - bí danh các chị đặt cho tôi lúc đó - là học sinh mới rời nhà trường, chưa biết gì lắm, cần giúp đỡ nó.” Thực tế là tôi đã tham gia tổ chức với tất cả lòng hăng hái của tuổi trẻ, mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào cuộc đấu tranh chung, nhưng còn chưa hiểu biết gì về chính trị. Để tôi quen với công tác quần chúng, các chị điều tôi đến sống với một gia đình nông dân ở Tân Phú Đông, ngoại ô Sài Gòn. Ở đó hằng ngày tôi phải quét một vườn cây ăn quả rất rộng, nấu cơm nấu nước... Bà cụ chủ nhà chê tôi không biết nấu ăn, dọn dẹp chưa gọn gàng. Tôi nghĩ đi làm “cách mạng” chẳng dễ chút nào! Nhưng rồi mấy tháng sau, cả gia đình đều thương tôi và bà cụ không còn chê tôi nữa.


