Giải quyết nạn mù chữ, nâng cao dân trí sau Cách mạng Tháng Tám 1945
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đất nước ta đứng trước muôn vàn khó khăn, thử thách, đặc biệt, những vấn đề về văn hóa - xã hội cũng đặt ra bức xúc. Trong đó, một tàn dư nghiêm trọng nữa mà thực dân Pháp để lại cho Nhân dân ta đó là “nạn dốt”. Hậu quả của chế độ thống trị thực dân lâu dài khiến phần lớn người dân không biết chữ, kèm theo đó là các tệ nạn xã hội như rượu chè, cờ bạc, nghiện hút, mại dâm…; điều đó đòi hỏi Đảng, Chính phủ phải đưa ra chỉ đạo đúng đắn để giải quyết nạn dốt hoành hành.
Chính sách “ngu dân” là một trong những biện pháp độc ác mà thực dân Pháp dùng để cai trị dân ta khiến cho hơn 90% đồng bào ta mù chữ. Dân trí thấp, cộng với khó khăn về kinh tế càng làm tăng nhanh các tệ nạn xã hội. Trong hai năm 1936-1937, ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ bình quân ba làng có một lớp sơ học và chỉ có 2% dân số đến trường sơ học (bậc học phát triển nhất dưới chế độ thực dân Pháp). Ở bậc tiểu học, toàn quốc có 638 trường; bình quân 34 làng và 29.239 người mới có một trường và chỉ có 0,4% dân cư theo học ở bậc học này. Do đó, nạn dốt trở thành một trong những kẻ thù nguy hiểm mà Chính phủ ta phải giải quyết. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu nên cần phát động mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ[1]”. Vì vậy, ngay từ những ngày đầu của nước Việt Nam mới, chính quyền cách mạng đã xác định giáo dục là một quốc sách quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Văn hóa, giáo dục được Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm lãnh đạo thực hiện nhằm xây dựng một nền văn hóa mới dân tộc, khoa học, đại chúng.
Động viên các cháu học sinh trong học tập, ngày 02/9/1945, nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong thư gửi cho học sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: Nền giáo dục của chúng ta là nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục sẽ đào tạo học sinh thành những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam. Do đó, “non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”[2].

Phong trào “Bình dân học vụ” phát triển mạnh trong thời kỳ này. Nguồn: Internet
Ngày 06/9/1945, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ để cấp tốc xóa nạn mù chữ trong nhân dân. Các lớp bình dân học vụ được tổ chức khắp nơi, lôi cuốn từ em nhỏ đến các cụ già 70, 80 tuổi. Hơn lúc nào hết, truyền thống hiếu học của dân tộc được phát huy cao độ. Thực hiện theo đúng chủ trương của Chủ tịch Hồ Chí Minh là mở một chiến dịch để chống “nạn mù chữ” với phương châm “người biết chữ dạy cho người chưa biết chữ”. Ngày 08/9/1945, Nha Bình dân học vụ được thành lập, nằm trong Bộ Quốc gia giáo dục. Cùng ngày, Sắc lệnh số 19/SL hạn trong 6 tháng các làng, thị trấn đều phải có ít nhất một lớp học bình dân và Sắc lệnh số 20/SL “cưỡng bách” học chữ quốc ngữ trong toàn quốc được ban hành. Chủ tịch Hồ Chí minh ký sắc lệnh: “Bắt buộc học chữ quốc ngữ và không mất tiền”. Một ngày sau khi được thành lập, để xác định cách thức tổ chức và hoạt động cho phong trào, Nha Bình dân học vụ liên tiếp tổ chức các lớp huấn luyện tại Hà Nội và các miền. Lớp học đầu tiên dành cho cán bộ phụ trách ở các tỉnh mang tên “khóa Hồ Chí Minh” khai giảng ở Hà Nội. Những người đầu tiên dự lớp học này là nguồn cán bộ đặt nền móng cho phong trào xóa mù chữ. Trong một thời gian ngắn hoạt động, Nha Bình dân học vụ đã tổ chức 3 lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ bình dân học vụ cho cấp tỉnh, trong đó có một số khóa đào tạo cán bộ cốt cán cho đồng bào dân tộc thiểu số. Từ lực lượng nòng cốt đã được huấn luyện, đoàn “chiến sĩ diệt giặc dốt” đã tỏa khắp các địa phương, tích cực vận động, thuyết phục quần chúng. Hàng chục nghìn người biết chữ hăng hái xung phong mở lớp giảng dạy. Khắp nơi từ miền xuôi đến miền ngược, từ thành thị đến nông thôn, đâu đâu cũng mở lớp. Nhân dân nô nức đi học - từ những cụ già tóc bạc phơ đến các cháu nhỏ. Khắp các địa phương, nơi nào cũng có thể trở thành lớp học như đình, chùa, chợ, cổng làng, bệnh viện, nhà máy, doanh trại quân đội, bến xe... Lớp học sáng sớm, lớp học buổi trưa, lớp học buổi tối cho những người lao động. Kinh phí mở lớp do ngân sách tỉnh, xã và các làng tự đảm nhiệm.
Những khẩu hiệu: “Tham gia bình dân học vụ là yêu nước”, “Giúp đỡ bình dân học vụ là yêu nước”… được đề cao, lôi cuốn mọi người, khơi dậy truyền thống hiếu học của dân tộc. Xen giữa các tiết học hay buổi học, học viên được nghe thời sự, học tập chính trị, giải giải về chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa cộng sản, về chính quyền của nhân dân… Phong trào bình dân học vụ không còn mang ý nghĩa văn hóa thuần túy mà đã trở thành phong trào vận động yêu nước, giáo dục chính trị cho quần chúng.

Một lớp Bình dân học vụ. (Ảnh: baotanglichsu.vn)
Ngày 04/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài “Chống nạn thất học”. Người kêu gọi: “Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết đi. Vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ không biết thì con bảo...”[3]. Ngày 15/11/1945, Trường Đại học Việt Nam khai giảng, học bằng tiếng Việt Nam, bao gồm: Ban Văn khoa, Ban Chính trị - xã hội, Ban Khoa học, Ban Y dược - Nha khoa, Ban Mỹ thuật. Ngoài ra, Trường Đại học Việt Nam còn có những trường cao đẳng chuyên môn: Công chính, Canh nông và Thú y.
Sau một năm thực hiện, trong toàn quốc Nha Bình dân học vụ mở được 75.805 lớp học, có 97.664 giáo viên, với 2.583.589 học viên[4]. Số sách phát hành chia làm 2 loại: sách cổ động là 263.266 cuốn và sách giáo khoa là 865.254 cuốn[5]. Trong năm học 1945-1946, ở bậc tiểu học, Trung Bộ và Bắc Bộ mở được 5.654 trường tiểu học và hương học, với 5.757 giáo viên cùng 206.789 học sinh. Nha Tiểu học vụ xuất bản tập Giáo dục tân san và tổ chức những “Trại Giáo dục” để huấn luyện các giáo viên biết áp dụng những phương pháp giáo dục mới. Ở bậc trung học, Trung Bộ và Bắc Bộ mở được 25 trường với 7.514 học sinh; chương trình học là chương trình chuyển tiếp do Nha Trung học vụ soạn thảo để dạy tạm thời.
Ngày 10/8/1946, Chính phủ ra Sắc lệnh số 146/SL, quy định những nội dung, nguyên tắc cơ bản cho nền giáo dục Việt Nam. Sắc lệnh nêu rõ: “Nền giáo dục của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là một nền giáo dục duy nhất, đặt trên ba nguyên tắc cơ bản: đại chúng hóa, dân tộc hóa, khoa học hóa và theo tôn chỉ phụng sự lý tưởng quốc gia và dân chủ[6]. Điều 11 và 12 quy định rõ: “Ở tất cả các bậc học, học sinh không phải trả học phí và trong các kỳ thi tốt nghiệp, học sinh cũng không phải nộp một khoản nào”[7], “Học sinh xuất sắc mà nghèo sẽ được học bổng của Chính phủ cấp”[8]. Từ đây, nền giáo dục mới ở Việt Nam được quản lý, thi hành theo một thể chế thống nhất và ưu việt.
Song song với việc xây dựng, củng cố và phát triển nền giáo dục mới; văn hóa nghệ thuật cũng có những bước đổi mới sâu sắc. Nhiều nhà văn, nghệ sĩ đã tự nguyện đứng vào hàng ngũ cách mạng, xung phong trở thành các chiến sĩ trên mặt trận văn hóa. Nhiều nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ tham gia vào đoàn quân Nam tiến chiến đấu với quyết tâm giữ vững nền độc lập, tự do của dân tộc.
Những tác phẩm văn học, nghệ thuật trong thời kỳ này tập trung phản ánh, tuyên truyền những nhiệm vụ trước mắt của cách mạng. Chủ đề sáng tác rất phong phú, đa dạng về lao động, chiến đấu, bảo vệ, củng cố chính quyền dân chủ nhân dân. Trong cả nước dấy lên phong trào ca hát với tinh thần lạc quan, vui tươi, phấn khởi tham gia văn hóa, văn nghệ. Đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa, văn nghệ liên tục được bổ sung, phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, giữa những khó khăn chồng chất của những ngày sau Cách mạng Tháng Tám, bên cạnh nền văn học nghệ thuật cách mạng đang phát triển, đâu đó vẫn còn những tàn tích của văn học lạc hậu, phản cách mạng rơi rớt lại. Ở đó, những phần tử Tơrốtkít đưa ra những luận điệu “tả khuynh” nhằm chia rẽ lực lượng văn hóa, văn nghệ của nước nhà. Chúng tuyên truyền cái gọi và văn hóa “độc lập”, không chịu sự lãnh đạo của một đảng phái nào; kích động văn, nghệ sĩ chống lại chế độ mới. Núp dưới chiêu bài “Mácxít” giả hiệu, chúng gieo rắc trong nhân dân sự hoài nghi, không tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng. Vì thế, lực lượng văn hóa chân chính yêu nước đoàn kết, bóc trần những luận điệu sai trái, phản động của chúng, góp phần làm lành mạnh bầu không khí văn học, nghệ thuật trong xã hội.
Dưới sự lãnh đạo của chính quyền cách mạng, công tác xuất bản và báo chí có những đổi mới và phát triển. Ngày 29/3/1946, Chính phủ ra Sắc lệnh số 41/SL quy định về chế độ báo chí mới, quy định rõ: thể lệ xuất bản, điều kiện in ấn, phát hành, luật lệ kiểm duyệt của Nhà nước… Đó là những cơ sở quan trọng để công tác xuất bản và in ấn báo chí phát triển nhanh và có nền nếp. Những năm 1945-1946, ở Trung Bộ và Bắc Bộ có 120 tờ báo; trong khi vào thời kỳ rộng rãi như thời kỳ Mặt trận Bình dân Pháp cầm quyền cũng chỉ có 20 tờ[9]. Những tờ báo như: “Cờ giải phóng”, “Sự thật”, “Cứu quốc”… được đông đảo người dân tín nhiệm và đón đọc. Báo chí cách mạng trở thành trung tâm hướng dẫn dư luận, và là công cụ sắc bén giác ngộ cách mạng, phổ biến các kiến thức nhằm nâng cao tri thức khá toàn diện cho toàn dân.
Như vậy, hơn một năm sau Cách mạng Tháng Tám thành công (8/1945 - 12/1946), Việt Nam đã thanh toán cơ bản nạn mù chữ; trình độ dân trí của toàn dân từng bước được nâng cao. Chủ nghĩa Mác-Lênin, đường lối chủ trương của Đảng, chính sách của Chính phủ được phổ biến rộng rãi và được người dân ủng hộ. Qua đó, khối đoàn kết toàn dân ngày càng được mở rộng và củng cố. Chính kết quả của phong trào “Chống nạn mù chữ” là một trong những cơ sở quan trọng để toàn dân ta thực hiện cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, nhưng nhất định thắng lợi./.
[1] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4 (1945-1946), Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.7.
[2] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4 (1945-1946), Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.35.
[3] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4 (1945-1946), Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.41.
[4] Dẫn theo: PGS Nguyễn Tố Uyên, Công cuộc bảo vệ và xây dựng chính quyền nhân dân ở Việt Nam trong những năm 1945-1946, Nxb KHXH, H, 1999, tr.94.
[5] Theo: Vũ Đình Hòe, Báo cáo về hoạt động của Chính phủ. Tài liệu của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, phông Quốc hội, hồ sơ 3, hộp 1, tr.32.
[6] Việt Nam Quốc dân Công báo, số ra ngày 24-8-1946.
[7] Việt Nam Quốc dân Công báo, số ra ngày 24-8-1946.
[8] Việt Nam Quốc dân Công báo, số ra ngày 24-8-1946.
[9] Diễn văn của ông Võ Nguyên Giáp, Chủ tịch Quân sự ủy viên hội nhân ngày kỷ niệm Lễ Độc lập 2-9-1946, Tài liệu lưu tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Phông Thủ tướng, Hồ sơ 636, hộp 65.


