Gian khó rèn nhân tâm – Sáng lên niềm tin với Đảng, với Bác Hồ để làm người tử tế
Giai đoạn 1955 – 1956 là thời kỳ đất nước vừa kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp, miền Bắc bước vào giai đoạn hòa bình, bắt đầu khôi phục kinh tế vào những năm này, miền Bắc liên tiếp hứng chịu bão lũ lớn, trong đó có đợt bão dữ quét qua tổng Hà Nam khiến nhà cửa ngập sâu, hoa màu trôi sạch, người dân phải sơ tán khẩn cấp. Nhiều hộ nông dân phải dắt theo trâu bò, lùa cả đàn vật nuôi sang các vùng cao hơn để tránh thiên tai bên tổng Hà Bắc. Làng Quỳnh Lâu quê hương ông Phạm Văn Phú lúc ấy trở t
Gia đình ông Phú được xếp là hàng trung nông cấp trên là hàng có tiền, có của ăn của để. Căn nhà 5 gian nhà gỗ nhà chính, nhà ngang 1 cái 6 gian 1 cái 3 gian nhà tranh vách đất không quản ngại cho người lạ tá túc, từng bó rơm, nắm cám, gánh nước đều được dành để nuôi dưỡng đàn trâu, bò là tài sản quý giá của người chạy bão. Ông Phú khi ấy còn là cậu bé nhưng đã cùng thầy u chăm sóc, dọn chuồng, bốc cỏ, phụ giúp chu toàn. Tấm lòng thơm thảo, tinh thần “lá lành đùm lá rách” “lá rách ít đùm lá rách nhiều” và nghĩa tình làng quê ấy đã in đậm trong ký ức những người từng nương nhờ nơi đây và cũng góp phần nuôi dưỡng trong ông Phú tinh thần sống vì người khác, đây là một phẩm chất mà ông giữ trọn suốt cuộc đời.
Gian khó rèn nhân tâm – Sáng lên niềm tin với Đảng, với Bác Hồ để làm người tử tế
Ông Phú kể lại, trong thời kỳ cải cách ruộng đất những năm 1953 - 1956 tại miền Bắc, nhiều gia đình không may phải chịu những oan khuất nghiêm trọng, trong đó có gia đình ông Phạm Văn Phú cũng là một trong những nạn nhân, thuộc diện trung nông lớp trên, cả nhà bị quy oan là địa chủ. Cha ông bị bắt, bị cùm gông, bị giam trong ngôi nhà nghèo nhất làng. Ông – khi ấy mới là cậu thiếu niên bị ép đứng đầu hàng hô “đả đảo địa chủ” giữa tiếng hò hét của những người bị kích động. Mẹ ông là bà cụ Troẹt âm thầm giấu tờ giấy nhỏ động viên chồng trong củ khoai nướng, viết: “Ông yên tâm, Ông Hồ Chủ tịch ra chính sách sửa sai sắp đến, ông không được tự tử, có vợ con ông ở nhà chờ tin”. Đó cũng là điểm tựa tinh thần cho biết bao gia đình như ông Phạm Văn Phú vượt lên oan khuất, sống tiếp bằng lòng tin với Đảng, với Nhà nước.
Sau ba tháng bị giam giữ, cha ông Phú được minh oan. Dù thân thể tật nguyền vì cùm kẹp quá lâu, ông vẫn trở về làm người tử tế. Gia đình được trả lại tài sản, bản thân ông Phú tiếp tục được đi học. Từ năm 1958 -1960, miền Bắc bước vào thời kỳ hợp tác hóa nông nghiệp, xây dựng mô hình làm ăn tập thể theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Chính sách Tuyên truyền thông qua các tổ chức Đảng, đoàn thể: Chi bộ, Mặt trận, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ… vận động người dân hiến ruộng. Ông Phú lúc đó cũng vận động người dân và chính gia đình ông đã hiến toàn bộ 3 mẫu 8 sào vào nông hội. Ông Phú chia sẻ đó là toàn bộ tài sản tích góp cả đời của ông bà, cha mẹ ông, không phải chỉ vàng, không phải bồ thóc to, nhưng đó là tất cả những gì gia đình ông có, nguyện hiến dân cho hợp tác xã, cùng làm, cùng ăn, một miếng khi đói bằng một gói khi no, quan niệm xưa của cha ông để lại làm bằng chính sức lực của mình, vậy nên nghĩa cử cao đẹp tuy bình dị nhưng lại vô cùng cao quý lúc bấy giờ. Đó là ca ngợi tinh thần “hiến đất vì lợi ích tập thể”, xây dựng xã hội mới, xóa bỏ bóc lột. Đưa gương người đi trước để lan tỏa tinh thần cộng đồng.
Năm 1964, Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng tri ân những gia đình có công với cách mạng. Gia đình ông Phạm Văn Phú vinh dự được cụ Phạm Văn Hiển và cụ Lê Văn Vang, những người đồng hương và là cha của Trung tướng Lê Đức Thái, một vị tướng lĩnh cấp cao trong Quân đội Nhân dân Việt Nam, hiện là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XIII, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Phó Bí thư Đảng ủy và Tư lệnh Bộ đội Biên phòng trực tiếp làm chứng và ký tên xác minh. Gia đình cụ Lý Cự, thân sinh ông Phú, đã được vinh danh và nhận Giấy khen do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký tặng. Đây không chỉ là minh chứng lịch sử xác thực, mà còn là ngọn đèn soi sáng truyền thống cách mạng, lòng yêu nước và tinh thần kiên trung một lòng hướng về đất nước hòa bình của gia đình ông Phú. Do thời gian quá lâu, bị mai một, nên chữ “Gia đình” bị mất, con cháu ông phục chế lại.
Từ tấm lòng người mẹ cứu nước, qua bão lũ san sẻ, nghĩa hiến ruộng, trải qua những ngày tháng gian khó và niềm tin không phai vào Đảng, là hành trình rèn luyện tâm hồn ông Phú.
Khi kể lại khoảnh khắc gia đình ông bị hiểu nhầm, ông cảm thấy tự hào vì gia đình ông may mắn có truyền thống hiếu học, thầy u ông đều là những người có học, ông không khó khăn và thiếu thốn như những gia đình đồng trang lứa khác, ông luôn tự hào về cội nguồn dân tộc, về những việc làm thầm lặng mà cao quý của thầy u ông, của dân làng Quỳnh Lâu lúc bấy giờ. Những suy nghĩ, hành động tuy giản đơn, nhỏ bé nhưng lại là những người công dân có công với xã hội, với đất nước, bình thường nhưng không tầm thường.



