Bầu trời Lào mùa khô lạ lắm, có cảm giác như có một đám cháy nào đó từ rất xa đang toả khói, khiến khoảng không trên đầu cứ mù mù ong ong rất khó tả. Núi rừng, cảnh vật... tất cả như hiện ra sau lớp kính mờ ảo. Ngoài bãi trống, nơi con đường chạy qua vẫn ong ong một màu vàng bàng bạc. Phía trong này, chỗ tôi đang ngồi râm mát, chung quanh dong dóng những thân cây xa gần chạy hút vào vô tận.
Rừng Lào cũng lạ, trên cái nền đất bằng phẳng dày kín, chen chúc những ngọn cây cao thấp, trong cái màu xanh trùng điệp đó, thi thoảng lọt vào những trảng cỏ cũng bằng phẳng rộng mênh mông. Đường vận tải chiến dịch giữa mùa khô, đất dưới bánh xe lăn đã trở nên tơi xốp, mặt đường đã trở thành một lớp bụi dày cứ phát ra những tiếng lụp bụp dưới bước chân. Những đoàn xe vận tải của ta sau khi luồn trong những cánh rừng ngút ngát cuối cùng ló ra chạy qua những bãi trống và kéo theo những luồng bụi cuồn cuộn phía sau, và đó là miếng mồi béo bỏ cho máy bay ném bom của địch. Một mình Đại đội 8 theo bộ binh hiệp đồng đánh Xê Băng Phai, tiểu đoàn chỉ còn 2 đại đội với tám khẩu pháo 37 ly 2 nòng đang nằm phục chung quanh bãi trống trước mặt.
Bây giờ xin nói về đơn vị tôi. Tiểu đoàn 5 của Trung đoàn 233 pháo cao xạ Quân khu 4 được tham gia chiến dịch 1972.
Cuối tháng 10 năm 1972, khi mùa mưa chỉ còn rơi rót bên kia dãy Trường Sơn thì chúng tôi lên đường. Sau khi qua biên giới, tiểu đoàn bố trí pháo dọc đường để bảo vệ hành lang giao thông. Đất công sự vị trí này chưa kịp phai màu đã lại kéo pháo đi tiếp vào vị trí khác. Hàng tháng trời suốt từ Lạc Xao, Kăm Kớt, cao nguyên Na Kay xuống tận Ma Ha Xay... toàn tiểu đoàn chưa có trận nào cho "hoành tráng", ngoại trừ Đại đội 10 cắm chốt bảo vệ bến vượt Nậm Thơn phía ngoài và Đại đội 8 theo bộ binh hiệp đồng đánh Xê Băng Phai ở phía trong đã có những trận đánh ác liệt. Ban chỉ huy do thượng úy Trần Kha làm tiểu đoàn trưởng và anh Trần Giảng, trung úy làm tham mưu trưởng đã có vẻ rất nóng ruột. Mấy lần các anh bố trí làm kho giả bằng cách cho phơi quần áo "hớ hênh", làm đường xe mờ mờ chạy dẫn vào những hang đá... nhưng chỉ kéo được vài tốp L19 vè vè trên cao một lúc rồi bỏ đi... Trước lúc ra đi, nhiệm vụ của tiểu đoàn đã được xác định rõ, trong chiến dịch giúp bạn mở rộng vùng giải phóng, tạo thế và lực cho cách mạng Lào thì pháo cao xạ của chiến dịch ngoài việc hiệp đồng bảo vệ bộ binh còn phải bắn rơi được máy bay địch. Nhiệm vụ đã rõ ràng như thế thì ban chỉ huy lo lắng và nóng ruột là điều tất nhiên rồi. Cánh lính trẻ chúng tôi rỉ tai nhau bàn tán và cũng ra chừng nóng ruột...
Một buổi chiều, sau khi ăn cơm xong, anh Đề, tiểu đoàn trưởng vừa từ ban chỉ huy tiểu đoàn trở về đã bước ngay lại trước võng tôi, anh nói:
- Cậu lên gặp anh Giảng nhận nhiệm vụ của ngày mai và có thể cả ngày kia...
Ngày mai rồi cả ngày kia... là sao? Bụng thì thắc mắc nhưng tôi vẫn phăm phăm bước lên chỗ tham mưu trưởng. Nhiệm vụ gì thế không biết? Đi trinh sát địa hình, đi đào trận địa mới hay vào bản quan hệ điều gì đấy, bởi tôi biết bập bõm đôi câu tiếng Lào... Sao lúc nãy không hỏi anh Đề xem là nhiệm vụ gì. Mà nếu tôi có hỏi thì chắc gì anh Đề đã nói. Tôi vốn rất ngại thăm dò hỏi han kiểu đó, rất dễ bị đánh giá này nọ, dù lòng không hết thắc thỏm... Nhiệm vụ gì nhỉ, có quan trọng hay không? Vẻ mặt anh Đề vẫn bình thường như mọi khi... Tôi mang tâm trạng băn khoăn ấy bước đi... Chẳng có gì phải lo cả, tôi tự nhủ. Dù sao đây cũng là dịp để mình được thử thách, được thể hiện.
Tôi nói thế là bởi tuổi trẻ hồi đó, trước lúc lên đường cầm súng chiến đấu ai mà chẳng hy vọng rằng môi trường quân đội sẽ làm mình trưởng thành, cả tiểu đội thông tin 9 người thì có 7 là đối tượng đảng. Được trở thành đảng viên luôn là ước mơ cháy bỏng của lớp trẻ chúng tôi. Bởi thế mà mọi nhiệm vụ, mọi công việc hàng ngày trong tiểu đội anh nào chậm tay chậm chân xung phong sẽ hết phần ngay. Ví như, anh Quý tiểu đội trưởng vừa bảo sáng mai cần hai người đi lấy củi thì đã ba bốn cánh tay đưa lên. Chiều cần một người đi sửa đường dây thì cũng bốn năm người tranh nhau... Hồi chưa sang đây, lán trại của tiểu đội lúc nào cũng sạch sẽ, có anh thức cả trưa quét tước. Có anh xung phong trực ban chiến đấu hết ca này đến ca khác. Tôi không được nhanh tay nhanh chân như người khác nên thành thử bị coi là phấn đấu chưa tích cực. Vậy thì đây chính là cơ hội chứ gì nữa. Tôi bước những bước mạnh mẽ hơn khi phát hiện ra điều đó.
Chỗ ban chỉ huy cách cánh thông tin chúng tôi chỉ mấy chục bước chân trong một khoảng rừng. Võng anh Giảng, anh Kha chụm đầu vào nhau bên cạnh căn hầm do chúng tôi đào ngay dưới chân các anh. Chính trị viên và tiểu đoàn phó đang theo các mũi thọc sâu, thành thử "ở nhà" ban chỉ huy tiểu đoàn chỉ còn lại tiểu đoàn trưởng và tham mưu trưởng. Lúc này trong rừng đã nhập nhoạng tối. Không biết tiểu đoàn trưởng Trần Kha đi đâu, trước mắt tôi chỉ còn tham mưu trưởng Trần Giảng. Ánh mắt anh Giảng sáng lên sau tán lá rùm roà cạnh chiếc võng anh đang ngồi. Anh đang chờ tôi... Ánh mắt anh có điều gì đó lạ lắm mà tôi không thể đọc ra được. Cười cợt, thăm dò, kích động hay... Bình thường tôi thấy anh Giảng rất vui vẻ với bộ đội, nhưng lúc đã vào công việc, lúc chỉ huy thì anh rất nghiêm khắc. Anh là một cán bộ chỉ huy thông minh và quyết đoán. Ấy là tôi chỉ nghe mấy anh lính cựu nhận xét thế chứ lính mới như tôi thấy anh thế chỉ biết khâm phục và hơi ngài ngại. Tôi ngại bởi nhiều lúc đang vui anh bỗng nghiêm nét mặt, ánh mắt quắc lên... Lúc này thì anh nhìn như chiếu một luồng sáng thắng vào mắt tôi:
- Cậu ngồi xuống đi.
Anh chỉ cho tôi chỗ ngồi bằng một thân cây gác ngang trên hai chạc ba đối diện.
- Cậu có biết tôi gọi lên vì việc gì không? - Anh hỏi tôi bằng một giọng rất bình thản.
- Dạ... - Tôi lúng túng.
- Tiểu đoàn ta chưa bắn rơi được T28, cậu biết rồi đó... Mà thằng này thì...
Anh Giảng bỏ lửng câu nói khiến tôi càng lúng túng hơn.
- Sang giúp bạn mà kéo pháo về không thì... mất công mất của cậu nhỉ?
Anh Giảng cứ thủng thẳng thế, khiến tôi càng như ngồi trên đống lửa. Rồi bất ngờ anh nói:
- Theo đồng chí, muốn bắn rơi T28 thì ta nên làm thế nào? Hay nói cụ thể hơn là... muốn kéo thằng T28 đến mà nổ súng thì ta nên làm gì?Hai tiếng đồng chí mà anh Giảng vừa nói khiến tôi bỗng nhiên cứng đờ. Tôi ngồi thẳng người chờ đợi một điều gì đó trong không khí trang nghiêm. Chẳng biết lúc đó, trong bóng tối nhập nhoạng trông nét mặt tôi thế nào nhỉ, chắc là căng thẳng lắm, thật quá hồi hộp...
Đoạn đời vào bộ đội của tôi còn ngắn ngủi lắm, chưa có thử thách nào quá nghiêm trọng, chưa có những tình huống gay cấn, chưa gặp những sự thử thách hiểm nguy đến tính mạng. Cũng như bao người khác cùng thời, tuổi trẻ tham gia chiến đấu tôi luôn nghĩ đó là nghĩa vụ đối với Tổ quốc, quê hương. Ra chiến trường tôi đâu nghĩ tới việc sống chết mà lúc đó tâm hồn chỉ ngập tràn những điều cao cả... Ánh mắt, giọng nói của người chỉ huy lúc này bỗng dưng khiến tôi nghĩ tới những điều nghe được từ nhiều người kể lại. Người ta kể rằng, trong chiến đấu, gặp lúc gay cấn phải cần người xung phong nằm vắt qua hàng rào dây thép gai để bộ đội đạp lên lưng mà xông qua cửa mở cũng không được thoái thác. Cần anh xông lên trong làn đạn địch cũng phải chấp hành... Mệnh lệnh chiến đấu thì đừng có đùa. Còn anh Giảng lúc này vẫn cứ đang vòng vo. Anh đang thăm dò tôi, thử thách tôi... Vòng vèo thế nhưng tôi linh cảm rằng cấp trên đang chuẩn bị giao cho tôi một nhiệm vụ nguy hiểm... Mới nghĩ đến thế tôi đã thấy ớn lạnh. Sự hồi hộp khiến tim tôi đập mạnh... Chuyện gì thế nhỉ? Sao anh ấy không nói thẳng ra...
Nheo nheo mắt nhìn tôi một lúc thì anh Giảng nói tiếp:
- Cậu có dám làm người nhử T28 xuống không?
- Báo cáo thủ trưởng... nghĩa là sao ạ?
- Cậu có dám không đã... - Ánh mắt anh Giảng lúc này như nhìn vào tận đáy lòng tôi.
- Dạ, tôi sẵn sàng...
- Chắc không? Nếu còn ngại thì thôi...
Cho mãi tới sau này tôi vẫn không sao quên được kiểu nhìn và kiểu nói đầy vẻ diễu cợt và kích động ấy của anh. Sau này, mãi đến nhiều năm sau tôi mới nghĩ được rằng sao tạo hoá thật khéo đặt bày, cuộc đời một con người đã có một quãng đời tuổi trẻ. Quãng đời tuổi trẻ máu căng ứ trong tim và tràn trề sức lực. Anh Giảng, người cán bộ chỉ huy đã chọc trúng lòng tự ái của tuổi trẻ tôi. Chết thì thôi chứ, sá gì... Biết bao người đã ngã xuống... Sau khi anh nói cụ thể về những việc phải làm, tôi đứng dậy với vẻ nghiêm trang:
- Báo cáo, em sẽ hoàn thành nhiệm vụ.
Nhiệm vụ của tôi nghe qua có vẻ đơn giản. Đó là lúc nào máy bay L19 xuất hiện thì tôi phải cầm một cành cây thật to chạy ra đường, phải chạy làm sao cho bụi cuộn lên thật nhiều cho giống có xe đang chạy trên đường. Có thể phải chạy nhiều lần, chạy cho tới lúc L19 nhào xuống bắn pháo khói chỉ điểm cho máy bay ném bom và T28 xuất hiện mới thôi.
Trên đường trở về chỗ của mình, lúc này tôi mới thấy lo. Tôi sẽ chạy dưới ánh mắt dòm ngó của thằng phi công. Thằng này chỉ có nhiệm vụ bắn pháo khói... Liệu nó có súng gì nữa không nhỉ. Biết đâu... T28 bất thần đến thì sao? Tôi sẽ phải chạy thật nhanh, nếu không sẽ không đủ bụi cho giống như có xe đang chạy, cho nó có bắn cũng khó trúng... Đầu óc quay cuồng, tôi tự đặt ra bao nhiêu tình huống sẽ xảy ra... Bỗng dưng tôi nhớ đến anh trai tôi. Trước lúc vào Quảng Trị anh có về tranh thủ mấy ngày. Mãi tới hôm tôi ra đi vẫn không có tin tức gì của anh. Nghe đâu trong đó ác liệt lắm. Anh tôi liệu có sao không, người ta bảo trong đó là cái cối xay thịt... Tôi rùng mình không dám nghĩ tiếp.
Chúng tôi có chuyện gì thì mẹ tôi chết mất. Nghĩ đến mẹ bỗng dưng tôi ứa nước mắt... Tôi len lén đến võng của mình, thật may mà lúc này trời đã tối hẳn, nếu không chúng nó biết tôi khóc thì không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Có một điều lạ là, nếu như mọi hôm mấy đứa kia sẽ nhào tới mà tra khảo xem tôi được giao nhiệm vụ gì, còn hôm nay không thế. Bọn thằng Mão, thằng Vinh đang ngồi thì thầm trao đổi thấy tôi về thì giả bộ tảng lờ. Mặc họ, tôi lần đến võng mắc màn rồi gieo mình xuống.
Có thể đó là một trong những đêm dài nhất của đời tôi. Tôi trằn trọc mong cho trời sáng, hễ chợp mắt một lúc lại giật mình tỉnh dậy. Không biết đã bao lần như thế, rồi cuối cùng tôi cũng giật bắn người khi nghe lao xao tiếng người và tiếng lách cách của súng đạn va nhau. Trong rừng lúc này đã hửng, tôi vùng dậy cuốn tăng võng nhét vào ba lô rồi xuống suối rửa mặt. Trở lên, qua nhà bếp, tôi ghé vào thì đã thấy anh Chiện bếp trưởng dọn sẵn một suất cơm. Cậu ăn trước rồi mà đi. Không hề hỏi rằng tôi đi đâu, giọng anh bình thường như hàng ngày khiến tôi chẳng còn một chút hồi hộp nào như tối qua nữa. Tôi ăn vội vàng ba bát cơm với chút ruốc bông rồi xách súng, khoác máy thông tin đi ra vị trí mà anh Giảng đã dặn. Đó là chỗ bắt đầu của đoạn đường sẽ phơi mình giữa trảng cỏ mà hôm trước đi rải dây tôi đã biết.
Phải nói thêm cho rõ là rừng Trung Lào bằng phẳng lắm. Từ Ma Ha Xay trở xuôi về phía nam lại càng bằng. Theo đường cái, cứ hết một quãng rừng rậm mươi lăm cây số lại gặp một trảng cỏ, rồi tiếp đến là rừng. Các trảng cỏ kế tiếp mênh mông trông như có nhiều sân bỏng đá ghép lại. Bãi cỏ nơi tôi nhận nhiệm vụ nhử máy hay địch như một cánh đồng nhỏ lọt thỏm giữa mênh mông những rừng cây. Đoạn đường mà tôi phải kéo cành cây để gọi T28 xuống chỉ như một dây cung, nó cắt vát qua cái hình elíp, khoảng hơn năm trăm mét. Khi tôi ra đến vị trí thì trời đã sáng rõ. Cuối bãi trống phía bên kia đã thấp thoáng bên bìa rừng một chiếc "ô tô" phủ ngụy trang sơ sài mà ai đó đã chuẩn bị chiều qua. Và ngay cạnh chỗ tôi sẽ ngồi đã có một đống to những cành cây cỡ hai tay nắm rùm roà cành lá. Bóng mấy chú gà rừng biến nhanh vào đâu đó, mấy con sóc nhảy nhoay nhoáy trên những cành cây trên đầu. Mặc chúng, lúc này tôi chỉ chú ý đến nhiệm vụ. Tôi tìm đầu dây mà anh Quý đã kéo ra đây từ chiều qua đấu ngay vào máy. Dây vừa đấu xong, tôi chưa kịp quay thử thì chuông đã đổ giòn. Giọng anh Giảng:
- Nghe rõ không?
- Dạ rõ.
- Cứ nghỉ đi, đừng lo. Lúc nào tớ bảo chạy hẵng chạy, nhớ chưa?
- Em nhớ rồi.
- Nhớ phải đeo cáp vào tai ngay nhé.
- Vâng.
Làm sao mà tôi không nhớ được. Tôi nhớ như in từng lời anh nói từ tối qua. Có gì đâu, bởi tôi thấy việc mình làm quan trọng quá, nó có liên quan đến thành tích, đến uy tín của tiểu đoàn... Và tôi đang cố gắng thể hiện mình... Sau việc này, nếu không có gì xảy ra thì tôi sẽ... Tôi thầm mong cho mọi việc êm xuôi. Nghĩ thế nhưng tôi vẫn cảm thấy lo lo. Hôm nay L19 có lên không nhỉ, rồi nó có lượn qua đây không. Nó lên thì liệu mình có lừa được nó không... Thôi, không nghĩ nữa... Tôi ngồi vẩn vơ lan man hết chuyện này đến chuyện khác.
- Cậu có nghe không đó? - Giọng anh Giảng vang vang kéo tôi về thực tại. - Nó lên rồi đấy...
- Em nghe rồi... - Tôi bắt đầu hồi hộp.
Rõ ràng tôi đã nghe tiếng è è rất trong của máy bay trinh sát ngoài kia. Tôi vốn ghét loại máy bay này, trông nó chảnh chọe ngoa ngoắt và dai nhách như đỉa. Loại này có thể luồn lách trong khe núi hay bay chậm như treo một chỗ để mà nghiêng ngó. Khi đã phát hiện được điều gì đó nó sẽ bám mãi. Nó tinh lắm, vì nó mà trước đó mấy hôm hai xe chở gạo của ta bị T28 bắn cháy rừng rực ngoài Na Kay.
- Chuẩn bị - Tiếng anh Giảng vang lên rành rọt trong tai nghe.
Tôi đứng dậy khoác khẩu AK chéo qua vai, để nguyên tai nghe trên đầu, hai tay túm đại một cành cây.
- Chạy - Giọng anh Giảng dứt khoát.
Tôi quay người, lột tai nghe đặt xuống bên máy, hai tay quài ra sau lưng túm chặt cành cây rồi cắm cổ lao ra. Nắng non trưa sáng loá trên đầu. Khẩu AK đập vào lưng đau buốt theo mỗi nhịp chạy. Hình như chiếc L19 đang ở trên mé trái trảng cỏ. Hai cánh nó đang trúng triếng lướt đi trên những tán lá. Tôi gò lưng tăng tốc, hai chân guồng mạnh, gió ù ù nổi bên tai. Tiếng những cành lá rùm roà xiết mạnh xuống nền đất. Đã ra giữa đoạn đường, hình như luồng bụi đã bốc cao và trùm kín mít cả tôi và cành cây phía sau. Luồng bụi theo bước chân tôi như một cái lò xo khổng lồ nối suốt từ mé rừng bên này sang mé rừng bên kia. Tới cuối đoạn đường, chỗ có chiếc "ô tô" thì bụi trùm lên phủ kín người, bụi đặc tràn cả vào mồm vào mũi khiến tôi sặc sụa. Tôi thả cành cây bám theo mép rừng lộn trở lại. Phía bên kia trảng cỏ, chiếc L19 đã vòng trở lại, nó nghiêng cánh bay vòng quanh đoạn đường mà tôi vừa chạy qua. Có lẽ luồng bụi đã đập vào mắt thằng phi công. Tôi chạy lần hai. Tiếp đến là lần ba. Không cần để ý xem chiếc L19 đang ở đâu, tôi như quên hết tất cả, tai ù đặc, mũi miệng thở hồng hộc và mồ hôi túa nhễ nhại trong cái nắng giũa trưa. Như cái máy, tôi cầm tiếp một cành cây nữa. Hình như lần này tôi chạy không còn nhanh được nữa, cũng không cần nhìn lên quan sát, hai chân đã nặng chịch. Tôi nghe ù ù bên tai tiếng vo vo xen trong tiếng gió quạt ào ào. Chiếc máy bay đã khép hẹp vòng lượn, hình như vậy... Vo vo o o... lúc này thì tiếng động cơ căng lên như tiếng xát của hai thanh sắt... Bất giác tôi nghiêng đầu. Trời, mắt tôi như chạm phải ánh mắt thằng phi công. Lúc này thì chiếc máy bay đã như con thuyền nhỏ màu xám lướt trên những ngọn cây bên phải chỉ cách tôi mấy chục thước. Anh mắt nó như đang găm vào gáy tôi, hàng số hiệu màu trắng trên thân nó loang loáng sau những tán lá. Tôi thấy ớn lạnh. Chỉ còn cách chiếc "ô tô" mấy bước, lấy hết sức tôi guồng mạnh đôi chân. Chưa kịp buông cành cây thì tiếng máy bay bỗng rít lên như tiếng sáo diều, nó đang lao xuống. Tiếng động cơ lúc này như một mũi khoan khoan thẳng vào màng nhĩ. Ngoắt người lao vào bìa rừng và bất giác tôi ngước mắt nhìn lên. Chiếc L19 lúc này như một mũi tên vun vút lao xuống đến kinh người. "Mũi tên" như cắm vào mặt tôi. Tôi chỉ kịp đổ ập người, đầu nòng khẩu AK cắm phập xuống đất, chiếc báng va mạnh nghe cộc một tiếng trên mũ cối, trời đất, rừng cây đang cuồng đảo. Oành. Quả pháo khói nổ cách tôi độ ba bước chân. Nó cắn câu rồi. Một thoáng ý nghĩ, tôi vùng dậy lao vào bìa rừng. Trở về vị trí, mồm miệng há ra như con cá mắc cạn, tôi hồi hộp cầm tai nghe đưa lên, tiếng anh Giảng vang vang: - Được rồi đấy, về đi. Khi tôi tháo máy khoác lên vai chuẩn bị bước thì ngoài kia, khoảng trời phía trên bãi trống đã vang rền tiếng động cơ máy bay ném bom của địch. Lúc này thì tôi đã nghe được khẩu lệnh từ các trận địa phục kích quanh bãi trống vang lên rành rọt. "Tất cả bám chiếc đi đầu... bám chiếc đi đầu"... |