Giáo sư Nguyễn Văn Huyên - Vị bộ trưởng chia chữ cho dân
Bài viết được sưu tầm tại Facebook Đàm đạo lịch sử
Từ lời động viên 'chia chữ cho dân' của Chủ tịch Hồ Chí Minh, giáo sư Nguyễn Văn Huyên trở thành Bộ trưởng Giáo dục lâu nhất trong lịch sử, giúp xóa nạn mù chữ và xây dựng nền giáo dục quốc dân.
Giáo sư Nguyễn Văn Huyên là "tư lệnh" ngành giáo dục từ 1946 đến 1975, và được xem là "kiến trúc sư trưởng của lâu đài giáo dục nước nhà".Sau Cách mạng tháng Tám, từ công cuộc xóa nạn mù chữ đến hai lần cải cách giáo dục (năm 1950 và 1956) và xây dựng nền giáo dục trong hai cuộc kháng chiến đều in đậm dấu ấn của ông.Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên sinh năm 1905, người Lai Xá, Hoài Đức. Ông từng du học Pháp, đỗ cử nhân Văn chương và cử nhân Luật. Ông sau đó là sinh viên Việt Nam đầu tiên của Đại học Sorbonne, một trong những trường danh tiếng nhất Pháp, bảo vệ xuất sắc luận án tiến sĩ Văn chương ở tuổi 29.Về nước năm 1935, giáo sư Huyên khước từ làm quan để theo nghề dạy học, rồi chuyên tâm nghiên cứu khoa học tại Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp. Sau Cách mạng tháng Tám, ông được bổ nhiệm là Tổng Giám đốc Đại học Vụ kiêm Giám đốc Đông Phương Bác cổ học viện.Tháng 11/1946, sau chuyến sang Pháp dự hội nghị Fontainebleau đàm phán hòa bình, giáo sư Nguyễn Văn Huyên được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao làm Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) vì hiểu biết rộng và học vấn cao nhất trong chính phủ lúc bấy giờ.Ban đầu, ông không dám nhận vì không có kinh nghiệm. Sau khi được Bác động viên: "Chú phải chia chữ cho nhân dân", ông mới nhận lời.Lúc ông nhậm chức bộ trưởng, 95% người dân Việt Nam không biết chữ, huyện lớn mới có trường tiểu học, vài tỉnh mới có một trường trung học cơ sở và cả nước có 5 năm trường trung học phổ thông toàn cấp.Ông Phạm Trọng Đang, thư ký đầu tiên của bộ trưởng, cho hay ngay những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, ông Huyên đã đề ra các kế hoạch kịp thời, từ củng cố tổ chức, di chuyển cơ quan Bộ để tránh sự tấn công của địch, thành lập khu giáo dục dựa theo các khu kháng chiến... Ông cũng chỉ đạo dùng tiếng Việt, thay vì tiếng Pháp trong các trường phổ thông, đại học.Không chỉ xóa mù chữ, ngành giáo dục còn mở thêm các lớp bổ túc văn hóa để nâng cao trình độ của cán bộ và nhân dân lao động. Năm 1946, Nha Bình dân học vụ đã thành lập được gần 75.000 lớp học, phát triển khoảng 96.000 giáo viên và xóa mù cho hơn 2,5 triệu người.Trong điều kiện kháng chiến, chương trình phổ thông được tinh giản từ 12 năm xuống 9 năm song vẫn chú trọng đảm bảo chất lượng. Những lứa học sinh sau này trở thành các nhà khoa học đầu ngành như Nguyễn Đình Tứ, Nguyễn Văn Hiệu, Nguyễn Lân Dũng...Muốn "chia được chữ cho nhân dân", ngành giáo dục cần có đủ giáo viên và giáo viên giỏi. Vì thế, các lớp thuộc hệ sư phạm cấp tốc 7+2, 10+3... lần lượt ra đời. Đại học cũng linh hoạt phù hợp nhu cầu, đào tạo từ 2 năm, lên 3 năm rồi 4 năm.Khi Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại, ông thường đến những vùng xa xôi, hẻo lánh để dự giờ, động viên thầy trò phải học dưới hầm tránh máy bay. Ông còn tổ chức cho học sinh, sinh viên, cán bộ đi học nước ngoài để xây dựng đội ngũ trẻ cho khoa học, giáo dục và các ngành; khảo sát kinh nghiệm của các nước Liên Xô, Đức.Theo ông Nguyễn Sĩ Tỳ, nguyên Bí thư Đảng ủy Bộ Giáo dục, Đảng và Nhà nước nhiều lần đánh giá cao những thành tựu nền giáo dục mà bộ trưởng cùng đồng nghiệp đã dày công xây dựng trong hơn 29 năm, gọi đó là "một trong những bông hoa đẹp nhất của chế độ mới".Hiện tại, có nhiều con đường tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP HCM, Huế… và rất nhiều các công trình bảo tàng, trường học mang tên ông trên khắp đất nước Việt Nam ta.



