Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Nguyễn Văn Trương – Người dành cả đời tìm cách sống hài hòa với thiên nhiên 06/03/1922–2007 · Xã Nam Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
Vào một ngày lất phất mưa bay, tôi cùng GS Nguyễn Văn Trương, PGS Nguyễn Pháp và KS Nguyễn Đình Cầm đến thôn Hợp Nhất, huyện Ba Vì (lúc bấy giờ còn thuộc Hà Tây). Nơi đây chỉ cách Hồ Gươm, Hà Nội 65 km, vậy mà đã có một hợp tác xã 100% là... người Dao! Những cô gái Dao không tô son điểm phấn, áo chàm, thắt lưng điều, đi chân trần, bắp chân quấn xà cạp, trông tươi duyên như những đoá hoa rừng.
Chị Triệu Thị Thanh, cán bộ phụ nữ xã, cứ nhắc đi nhắc lại hoài:
- Bà con Dao ở Hợp Nhất đây, cảm ơn Viện Kinh tế sinh thái, cảm ơn bác Trương lắm lắm!
Còn anh Dương Trung Tâm, Chủ nhiệm hơp tác xã, thì nói khẽ với tôi:
- Cảnh vật quê tôi giờ khác hẳn ba năm trước, do được sự chỉ bảo của "Viện bác Trương". Viện cử hẳn bác Nguyễn Đình Cầm, kỹ sư lâm nghiệp về hưu, lên đây ở lại trong dân, bày cho dân cách làm ruộng, làm vườn bậc thang, đào giếng, trồng khoai từ, trồng mía, đào ao thả cá, làm đõ nuôi ong, trồng cây trám đen, trám trắng, cây tai chua, bồ kết...
Câu chuyện về vị kỹ sư già, nhà ở tận Hà Đông, đi xe "ba-bét-nhè" (tên gọi giễu loại xe máy Tiệp Babetta hay chết máy giữa đường), lên tận đây, bên chân núi Ba Vì này, không nhận lương của Viện mà mỗi tháng ở lại 20 ngày, "ba cùng", giúp bà con Dao đoạn tuyệt với tập tục nghìn đời phát nương làm rẫy, khiến tôi cảm động quá! Tôi ôm chầm lấy người trí thức nghèo gầy guộc ấy, và bất giác những giọt nước mắt mằn mặn cứ trào ra... Vâng, trong thời buổi kinh tế thị trường "tiền trao cháo múc", vẫn còn đó những nhân cách thanh cao, không "hám hơi đồng"!
Nhờ tài năng khoa học và đức độ liêm chính, GS Trương "tranh thủ" được cho hợp tác xã Hợp Nhất một dự án 25 nghìn USD từ Uỷ ban Công giáo chống nghèo đói và vì sự phát triển (CCFD) của Pháp. Viện chỉ dành ra 30% để làm kinh phí hoạt động (thấp hơn mức CCFD mong đợi), còn 70% đưa đến tận tay dân bản, không "xà xẻo" linh tinh. Rồi Viện cử kỹ sư Cầm về bản, cùng ăn, cùng ở, cùng làm với bà con.
Quê hương Nguyễn Du cũng có làng sinh thái
Mong ước bao năm tôi ấp ủ được về thăm quê hương bản quán của Nguyễn Du, giờ mới thành hiện thực. Tôi cùng đi với các PGS Nguyễn Pháp, Nguyễn Trần Trọng và Nguyễn Cảnh Khâm về Tiên An, một thôn nghèo thuộc xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Dự án về làng sinh thái Tiên An được CCFD tài trợ 300 triệu đồng. Trừ các khoản đầu tư chung cho cả thôn, mỗi hộ được trao tận tay ba triệu đồng. Ba triệu, đối với một tay mới phất "sành điệu" thời nay, thật quá nhỏ nhoi! Nhưng, đối với một hộ dân nghèo ở Tiên An thì lại khác. Tối tối, bà con vẫn cố giữ "nghề truyền thống" có từ thời cụ Nguyễn Du, ngồi đan rổ rá, cặm cụi từ chập tối tới đêm khuya, mỗi người đan được hai cái rổ, sáng đem ra chợ huyện bán, chỉ thu vài nghìn tiền công! Tiền nghìn còn khó kiếm vậy, nói chi tiền triệu!
Thôn có 60 hộ. Một con đường thôn cát mịn chạy quanh. Hộ nào cũng mở cổng ra đường. Vườn ai cũng rào tre xanh ngắt. Bờ tre quê hương, trông thơ mộng đấy, nhưng trong vườn, trừ cây tre, chẳng có thứ cây nào mọc nổi! 800 m2 vườn mỗi hộ, nhưng là vườn tạp, chẳng thu lợi được gì đáng kể!
Thế còn ruộng? Mỗi khẩu nhận khoán 500 m2, nhưng là đất cát biển, nhiều mảnh đành bỏ hoang. Cát chiếm 95-98% trong đất, hạt cát rời rạc, dễ "cuốn theo chiều gió" tạo ra những trận cát bay làm giập nát ngọn non, trốc rễ cây trồng, lắm khi còn vùi lấp cả một đám ruộng! Ngày nắng gắt, lớp cát nóng 60-650C, nướng chín quả trứng gà! Trồng cây trên cát, cứ phải tưới nước liền tay. Nhưng lấy đâu ra nước?
Ở vùng đất cát biển, Viện đã xây dựng thành công 5 làng sinh thái dọc ba tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị. Từ kinh nghiệm đó, nay các nhà khoa học của Viện về giảng bài tại Lớp tập huấn xây dựng làng sinh thái Tiên An.
82 tuổi rồi, lại quá bận, GS Trương đành gửi bài giảng tới lớp, nhờ PGS Nguyễn Pháp đọc. Ông nhắc bà con nên nghĩ kỹ về câu châm ngôn xưa: "Nhất canh trì, nhì canh viên, tam canh điền". Rồi lưu ý mấy việc từng hộ nên làm, như đào ao thả cá (canh trì), cải tạo vườn tạp (canh viên), trồng những dải rừng chống cát bay, đưa nước vào ruộng, mạnh dạn dùng giống mới (canh điền).
Mới nhìn qua thì Tiên An khan hiếm nước ngọt. Nhưng, chỉ cần đào xuống 3 m, là đã có nước trong veo pha trà, xuống 5 m, thì dư nước bơm tưới cây.
Bờ tre các vườn sẽ được thay dần bằng bờ dâu, loại cây ít hại đất.
GS Trương gợi ý: Trong vườn, nên trồng nhiều loại cây ăn quả, dễ bán, nhằm "xoá đói giảm nghèo" như hồng, na, xoài, cam, dứa, hồng xiêm, khế ngọt... Nhưng, cũng đừng quên những cây "gieo mỹ cảm", được nhắc đến trong Truyện Kiều như đào, mận, lựu, lê.... Chỉ cần trông thấy hoa đào, quả đào, là tự nhiên khách phương xa đến Tiên An nhớ tới những câu Kiều tuyệt hay có chữ đào: "khoá buồng xuân để đợi ngày đào non", "đào hoen quẹn má, liễu tan tác mày", "đào đà phai thắm, sen vừa nảy xanh"...



