Bài viết

Giữa mái nhà tranh xứ nghệ - Nơi khởi nguồn một nhân cách lớn

Chuyến thăm quê Bác ở Hoàng Trù và Làng Sen

Quảng Ngãi29/10/2025Nguyễn Vũ An (Trường THPT Sơn Hà)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chủ đề bài viết: Giữa mái nhà tranh xứ nghệ - Nơi khởi nguồn một nhân cách lớn

Sáng hôm ấy, khi ánh nắng đầu ngày vừa kịp len qua kẽ lá, chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình về với quê Bác. Đến Nghệ An, địa điểm đầu tiên mà chúng tôi đặt chân đến là làng Hoàng Trù – xã Kim Liên – huyện Nam Đàn – tỉnh Nghệ An, đây là nơi mà Bác đã cất tiếng khóc chào đời và gắn bó 5 năm tuổi thơ. Nhà ông bà ngoại của Bác nằm trong mảnh vườn khá rộng, khoảng 3500m, có 3 ngôi nhà: ngôi nhà thờ họ Hoàng Xuân, ngôi nhà cụ Hoàng Đường (ông ngoại Bác), ngôi nhà của cụ Nguyễn Sinh Sắc và bà Hoàng Thị Loan. Ngôi nhà ông bà Hoàng Xuân Đường là nơi mà bà Hoàng Thị Loan được sinh ra và lớn lên, là lớp học đầu tiên ươm trồng tài năng của ông Nguyễn Sinh Sắc. Và đây cũng là nơi ghi dấu những kỷ niệm êm đẹp trong tuổi ấu thơ của Bác Hồ.

Bên cạnh có một ngôi nhà nhỏ 3 gian là tổ ấm của bố mẹ Bác, nơi Bác đã cất tiếng khóc chào đời. ngay xưa có một phong tục, khi con gái lập gia đình không được ở chung với bố mẹ, trong khi đó ông Nguyễn Sinh Sắc lại mồ côi cả cha lẫn mẹ. Thương các con về Làng Sen không có nhà của ruộng vườn, nên ông bà ngoại Bác làm ngôi nhà nhỏ này để bố mẹ Bác ra ở riêng. Ngày về thăm quê hương của Bác, nhà thở Tố Hữu đã xúc động viết 2 câu thơ:

Ba gian nhà trống, nằm đưa võng

Một chiếc giường tre, chiếu mỏng manh.

Quả thực như vậy, nhà Bác Hồ gồm có 3 gian, gian ngoài là nơi bố Bác học tập và là nơi nghỉ ngơi của ông, chiếc án thư cạnh cửa sổ đã chứng kiến việc học tập của ông trong rất nhiều năm. Cạnh đó, sau chiếc màn có kê một chiếc giường nhỏ là nơi nghỉ ngơi của mẹ Bác và chính tại đây 3 chị em Bác Hồ đã cất tiếng khóc chào đời. Cả gia đình Bác gắn bó với mảnh đất quê ngoại yêu thương này được 12 năm. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác, người đã đi muôn nơi, ở và làm việc tại rất nhiều ngôi nhà, nhưng chỉ khi về với ngôi nhà nhỏ ở đất Hoàng Trù này Bác đã nói với bà con “Bà con ơi, đây mới thực sự là nhà của Bác”. Người bước vào nhà, nhìn thấy những hiện vật thân thương trong gia đình mình vẫn còn, nhưng bố mẹ, anh chị Bác không còn ai nữa. Người đã rưng rưng lệ khi nhìn vào chiếc khung cửi mà ngày xưa bên ngọn đèn dầu lạc, mẹ Bác đã thức trắng bao đêm để được tấm lụa mượt mà nuôi chồng ăn học, chăm sóc các con khôn lớn trưởng thành. Mỗi lúc dệt vải mẹ thường đặt con vào cánh võng bên cạnh, bằng những làn điệu dân ca ngọt ngào xứ Nghệ, mẹ ru các con vào giấc ngủ:

À ơi, con ơi mẹ dặn câu này

Chăm lo đèn sách cho tày áo cơm

Làm người đói sạch rách thơm

Công danh phủi nhẹ, nước non phải đền”.

Những lời ru của mẹ luôn in sâu trong tâm thức của Bác, để rồi khi người hoạt động yêu nước trên mảnh đất Thái Lan, đêm khuya, vô tình Bác nghe một bà mẹ Việt Kiều ru con bằng những câu hát ầu ơ quen thuộc, nhớ mẹ Bác không ngủ được. Sáng hôm sau, Bác có tâm sự với các đồng chí rằng: “Xa nhà được mấy mươi niên. Đêm qua nghe tiếng mẹ hiền ru con”. Tôi còn nhớ mình đã từng đọc một đoạn tài liệu về Bác, rằng trước khi bước vào giấc ngủ vĩnh hằng, Bác chỉ khao khát được nghe một điệu dân ca, hay một câu hò xứ Nghệ đó chính là lần Bác nhớ mẹ, nhớ quê hương. Giây phút làm ai cũng cảm động khi Bác nhận ra chiếc rương gỗ trong căn nhà của bố mẹ Bác, đôi bàn tay của Bác cứ mân mê cái nắp rương này, xúc động nghẹn ngào Bác nói với bà con: “Các cô các chú thật khéo giữ, chiếc rương cũ này ngày xưa đến nay vẫn còn”. Chiếc rương cũ này chính là món quà hồi môn mà ông bà ngoại cho mẹ Bác ngày mẹ Bác lấy chồng và cũng chính chiếc rương này, tuổi thơ của Bác đã chập chững men theo để tập đi những bước đi đầu đời. Nhưng không ai ngờ, mảnh đất linh thiêng, nơi Bác cất tiếng khóc chào đời, gắn bó 5 năm tuổi thơ duy nhất đón Người về thăm một lần vào ngày 9/12/1961.

Khi được về thăm quê ngoại của Bác Hồ tại làng Hoàng Trù, tôi thực sự rất xúc động khi được xem lại những kỷ vật gắn bó với tuổi thơ của Bác, hiểu rõ những năm tháng gia đình Bác sống ở đây như thế nào. Chính mảnh đất Hoàng Trù này đã sinh ra người anh hùng của dân tộc Việt Nam – Bác Hồ kính yêu của chúng ta.

Rời làng Hoàng Trù, chúng tôi lên xe và di chuyển đến Làng Sen, đây là quê nội của Bác, gắn bó với Bác 5 năm thời niên thiếu, từ năm Bác 11 tuổi đến năm Bác 16 tuổi. Di tích Làng Sen có lịch sử ra đời cách đây hơn 100 năm. Vào khoa thi Hội năm 1901, bố của Bác Hồ đi thi và đỗ đạt học vị Phó Bảng, bố Bác là người đầu tiên đỗ cao nhất làng, nhân dân ở đây đã xuất công quỹ mua một ngôi nhà gỗ 5 gian dựng trên mảnh đất công của làng rộng 2500m2 để mừng cho ông Phó Bảng. Còn ngôi nhà ngang phía bên dưới là món quà mà người anh trai cùng cha khác mẹ của bố Bác – ông Nguyễn Sinh Thuyết mừng cho em công thành danh toại. Theo tục lệ của ngày xưa là vinh quy bái tổ, cả gia đình Bác đã chuyển từ Hoàng Trù về Làng Sen sinh sống từ năm 1901.

Ngày về Làng Sen sinh sống, gia đình Bác chỉ còn có 4 cha con, mẹ và em trai của Bác đều đã qua đời. Việc làm đầu tiên bố Bác đã làm là làm một bàn thờ để thờ người vợ trẻ, cạnh bàn thờ có đặt một tấm biển, đó chính là món quà cao quý mà vua Thành Thái đã ban cho bố Bác khi ông đỗ Phó Bảng. Tấm biển đó khắc 4 chữ Hán “Ân Tứ Ninh Gia” (ơn vua ban cho gia đình). Cả đời bà Hoàng Thị Loan tần tảo nuôi chồng ăn học nuôi con khôn lớn, nhưng đến khi ông Nguyễn Sinh Sắc đỗ đạt, trở về vinh quy bái tổ thì bà lại không còn nữa. Đặt tấm biển vua ban bên cạnh bàn thờ vợ, ông Nguyễn Sinh Sắc muốn bày tỏ lòng biết ơn với người vợ hiền. Về đây, bố Bác làm nghề dạy học, ông là một nhà nho rất yêu nước, bạn bè của ông cũng là những chiến sĩ yêu nước xứ Nghệ. Ngôi nhà này là nơi hội tụ những tri thức lớn của xứ Nghệ lúc bấy giờ như cụ Phan Bội Châu, cụ Đặng Nguyên Cẩn (bố giáo sư Đặng Thai Mai), cử nhân Vương Thúc Quý thầy giáo dạy học thuở nhỏ của Bác Hồ. Mỗi lần nhà có khách, bố Bác vẫn thường tiếp khách trên bộ phản gỗ đặt ở gian ngoài, Bác là người con nhỏ nhất, nên được cha cho đứng bên cạnh để giúp cha lấy thuốc, lấy trà tiếp khách. Chính vì thế mà hằng ngày, Bác đã lắng nghe được những câu chuyện non nước của các cụ, đó là tiền đề để Bác suy ngẫm và lựa chọn con đường làm cách mạng của mình. Sau này, khi Bác trả lời phỏng vấn của một nhà báo Pháp, kể về quảng đời thời niên thiếu của mình, Bác đã từng nói rằng: “Nhân dân Việt Nam, trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi lúc bấy giờ thường tự hỏi nhau rằng ai là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp, người này nghĩ là Nhật, người khác nghĩ là Anh, có người khác nữa cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ, sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”.

Như vậy có thể nói, nếu Hoàng Trù quê ngoại là nơi Bác cất tiếng khóc chào đời, nơi góp phần hình thành nhân cách cao thượng và cá tính tuổi thơ, thì chính Làng Sen quê nội là nơi góp phần hình thành và nhen nhóm tư tưởng yêu nước thương dân ban đầu của Bác. Bố Bác đã bao lần đỗ đạt cao nhất làng, và được người dân ở đây gọi là quan Phó Bảng, nhưng ông lại sống cuộc sống hết sức thanh bạch, giản dị và gần gũi với bà con. Ông đã dạy các con của mình rằng “Dĩ vật tang gia di ngộ phong dạng”,tức là không được lấy phong cách nhà quan để làm phong cách nhà mình. Lối sống giản dị gần dân của ông ảnh hưởng rất nhiều đến ba chị em Bác.

Năm 1957, sau hơn 50 năm xa quê Bác mới có dịp trở về thăm quê hương lần đầu tiên. Ngày Bác trở về, anh trai của Bác đã mất được 7 năm, chị gái thì mất 3 năm, trong ngôi nhà này không còn một người thân nào ra đón Bác. Bồi hồi, Bác lần thăm từng kỷ vật, Bác nhớ người thân. Nói chuyện với bà con, Bác bảo rằng: “Quê hương nghĩa trọng tình cao. Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình”.

Làng Sen quê nội và Hoàng Trù quê ngoại vẫn lưu giữ những hiện vật gắn với cuộc sống, sinh hoạt bình dị thuở thiếu thời của Bác, khiến tôi luôn có cảm giác gần gũi, thân thương và xúc động. Tuổi thơ của Bác Hồ ở đấy, một tuổi thơ êm đềm trôi trong sự giáo dục nghiêm chỉnh của cha và tình yêu thương, cũng như đức hy sinh cao cả của mẹ. Nghe chị thuyết trình viên giới thiệu về cụm di tích với chất giọng Nghệ An tha thiết như điệu hò xứ Nghệ, trìu mến như khúc hát ru bên nôi, đầu tôi mơn man nhớ đến những lời thơ đầu của bài thơ Thăm quê Bác do nhà thơ Xuân Miền sáng tác:

Cháu về quê Bác – Làng Sen

Tháng năm nắng đẹp người chen chân người.

Nơi đây lưu dấu cuộc đời

Ân tình, nhân nghĩa thuở thời ấu thơ.

Đứng lặng giữa khung cảnh bình dị ấy mà khoé mắt tôi rưng rưng. Phải chăng chính mảnh đất quê hương nghèo khó, thấm đượm nghĩa tình và truyền thống hiếu học, yêu nước đã tạo nên một nhân cách vĩ đại? Và phải chăng, tất cả những điều vĩ đại, đều chứa đựng trong mình những gì gần gũi, bình dị nhưng thấm đậm hồn quê hương? Từng gốc tre hồn hậu đến bờ hoa dâm bụt thắm đỏ, từng hàng cau vươn mình trong nắng đến những mái lá đơn sơ,… tất cả đều thấm hồn dân tộc, đều gợi lên trong sâu thẳm trái tim tôi niềm tự hào thành kính về một cuộc đời, về một nhân cách giản dị mà vĩ đại – Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trên mảnh đất thấm hồn quê ấy, tôi - một người thanh niên Việt Nam nhận ra rằng tình yêu nước, lòng nhân ái và đức hy sinh không ở đâu xa, mà bắt đầu từ tình yêu gia đình, quê hương, từ sự tự hào và trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay. Chuyến đi này không chỉ giúp tôi hiểu thêm về Bác, mà còn là bài học sâu sắc về cách sống, cách cống hiến. Tôi tự nhủ sẽ cố gắng sống tốt hơn, học tập và lao động hết mình để xứng đáng với công lao và tình yêu thương bao la của Người – vị cha già dân tộc, người con ưu tú của quê hương Nghệ An.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn