Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

GS Trần Quốc Vượng - Phương pháp liên ngành nghiên cứu văn hóa – lịch sử Nam bộ, đặt diễn trình lịch sử trong dòng chảy văn hóa; đồng thời nhìn ra những “đứt gãy văn hóa” là hệ quả của (một số sự kiện quan trọng) lịch sử. Biết/cần đặt câu hỏi “ngược”.

Trong cuộc “Du khảo một số di tích lịch sử - văn hóa ở sài Gòn và các vùng phụ cận” năm 1998, giáo sư Trần Quốc Vượng luôn “suy nghĩ về di sản văn hóa và thành phần tộc người ở Đồng Nai – Biên Hòa – Sài Gòn – Gia Định xưa. Như Thầy viết “trước, trong và sau tuần lễ du khảo, chúng tôi đọc và đọc lại những Trương Vĩnh Ký, Vương Hồng Sển, Minh Hương, Huỳnh Ngọc Trảng… các nhà văn – học giả, nhà nghiên cứu tài danh của nam kỳ lục tỉnh, của Ngũ Quảng đã tạo nên hương hoa bản sắc Sài Gòn”. Bài nghiên cứu – bút ký của giáo sư về cuộc du khảo này là một trong những bài thể hiện tư duy liên ngành mà những học trò của Thầy ở Nam bộ đã học được từ Thầy.

Quảng Ninh12/08/2026Xã Tân Kỳ (Đoàn xã Tân Kỳ)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong cuộc “Du khảo một số di tích lịch sử - văn hóa ở sài Gòn và các vùng phụ cận” năm 1998, giáo sư Trần Quốc Vượng luôn “suy nghĩ về di sản văn hóa và thành phần tộc người ở Đồng Nai – Biên Hòa – Sài Gòn – Gia Định xưa. Như Thầy viết “trước, trong và sau tuần lễ du khảo, chúng tôi đọc và đọc lại những Trương Vĩnh Ký, Vương Hồng Sển, Minh Hương, Huỳnh Ngọc Trảng… các nhà văn – học giả, nhà nghiên cứu tài danh của nam kỳ lục tỉnh, của Ngũ Quảng đã tạo nên hương hoa bản sắc Sài Gòn”. Bài nghiên cứu – bút ký của giáo sư về cuộc du khảo này là một trong những bài thể hiện tư duy liên ngành mà những học trò của Thầy ở Nam bộ đã học được từ Thầy.

Cũng trong tư duy, phương pháp liên ngành, giáo sư Trần Quốc Vượng đã lưu ý “Khảo cổ học lịch sử/ đô thị” là một trong những ngành quan trọng của Khảo cổ học thế kỷ XXI, đặc biệt ở Nam bộ, bởi vì đây là vùng được đô thị hóa về quy hoạch, kiến trúc và xây dựng, về lối sống (theo kiểu phương Tây) sớm và phổ biến nhất so với những vùng miền khác ở Việt Nam.

Tại Hội thảo khoa học Quốc tế: Một thế kỷ Khảo cổ Học Việt Nam, giáo sư Trần Quốc Vượng đã cập về vấn đề khảo cổ học Đô thị trong “một viễn cảnh khảo cổ học Việt Nam ở thế kỷ 21” như sau: Khảo cổ học thế kỷ mới cần dũng cảm mở đột phá vào Hà Nội – Huế - Sài Gòn để xây dựng một nền khảo cổ học đô thị Việt Nam, dẫu cho bản chất của văn minh Việt Nam cổ truyền là văn minh nông nghiệp, nhưng thành thị Việt Nam cổ không thể chỉ là những cục bướu thịt thừa của nền kinh tế như nhận định của Marx từ thế kỷ 19 về phương thức sản xuất châu Á.

Từ năm 1998 sau khi đến “thăm thú” (chữ của Thầy) di tích lò gốm cổ Hưng Lợi đang trong quá trình khai quật, giáo sư Trần Quốc Vượng đã nhận định: “Nếu nét đặc sắc của khảo cổ học lịch sử TP. Hồ Chí Minh 300 năm là việc phân lập và nghiên cứu “Gốm Sài Gòn” (trước, Tây và ta chỉ gọi là Gốm Cây Mai) với cả sản phẩm gốm và các lò gốm của nó ở xứ Lò gốm – rạch (lò) gốm bao trùm mấy quận nội thành thì nét đặc sắc của khảo cổ học tiền – sơ sử TP. Hồ Chí Minh là việc khảo cổ vùng Cần Giờ Giồng cá Vồ - Giồng Phệt – Giồng Am và nên bao gồm luôn Long Bửu, cái gạch nối Núi – Đồi – Rừng và Biển – Đảo – cát theo dòng Đồng Nai – Sài Gòn”.

Từ những kết quả nghiên cứu đầu tiên về Di tích lò gốm Hưng Lợi, Thầy nhận xét “Áp dụng cách tiếp cận liên ngành các phó tiến sĩ của Viện bảo tàng lịch sử thành phố đã đi điền dã ở Lái Thiêu – Bình Dương – Sông Bé… thăm các lò gốm của người Hẹ, người Quảng Đông… Cuối cùng tìm thấy ngay ở quận 9 nơi chợ nhỏ Hiệp Phú (Thủ Đức cũ) rẽ vào phường Long Trường (Long Thạnh Mỹ cũ) một lò lu hiện đại (1954 – 1966) có cấu trúc giống hệt “Lò gốm Hưng Lợi” quận 8. Đây là một thành công thể nghiệm cách tiếp cận liên ngành nhân học văn hóa, bao gồm cả khảo cổ học và dân tộc học”

Bài viết Nam bộ - các tiểu vùng sinh thái khào cổ - nhân văn và huyền tích khởi nguyên luận của GS Trần Quốc Vượng đã dẫn dắt người đọc đi từ Bắc, qua Trung vào Nam, từ “phân vùng địa lý tự nhiên” đến “địa lý nhân văn” - không gian văn hóa, từ các di chỉ khảo cổ thời đá cũ đá mới đến ngữ hệ, từ ngôn ngữ của các tộc người đến cổ sử, từ tín ngưỡng dân gian đến huyền tích khởi nguyên… Tất cả tưởng là tản mạn không có gì liên quan, nhưng từ sự liên tưởng, liên hệ giữa những vấn đề khác nhau thì rồi “mọi con đường đều đến La Mã”: “văn minh – văn hiến Đông Nam Á nhìn chung là kết quả tác động qua lại (interaction) giữa các yếu tố nội sinh (nguyên lý mẹ) và các yếu tố ngoại sinh (nguyên lý bố). Bắc (Âu Lạc, Việt cổ) – Trung (Champa cổ) – Nam (Phù Nam cổ) đều cùng chung một mô hình huyền tích khởi nguyên luận!

Những huyền tích từng được nhiều người biết đến, và cũng chỉ hiểu/coi là huyền tích, khi đặt trong mối liên hệ văn hóa – ngôn ngữ - khảo cổ - cổ sử… bỗng phản ánh một cái gì đó của quá khứ “thuộc về lịch sử”. Những “mảnh vỡ” lấp lánh của huyền tích, thần thoại, truyền thuyết tuy không phải là “sự thật lịch sử” nhưng nó phản ánh quá khứ đã được “khái quát hóa” qua nhiều đời, như một “dị bản” của lịch sử.. Một câu nói vui của dân Nam Bộ mà Thầy Vượng rất thích và hay nói “Coi zdậy, mà hổng phải zdậy, mà đúng là zdậy…”. Từ thời chúng tôi là sinh viên Thầy đã dạy cách suy nghĩ như thế, như một triết lý của Phật giáo Thiền tông Việt Nam: Khi chưa học Thiền ta nhìn núi là núi, ta nhìn sông là sông. Khi đang học Thiền ta thấy núi không còn là núi, sông không là sông. Nhưng sau khi đã chứng ngộ Thiền, ta lại nhìn ra giản dị: Núi đúng là Núi, Sông thật là Sông. Thật ra đây là cách lật đi lật lại vấn đề, hay như Thầy vẫn nói: đi đi lại lại, hỏi đi hỏi lại, nghĩ đi nghĩ lại…

Hầu như các bài viết của Thầy về lịch sử - văn hóa Nam bộ ít nhiều đều từ phương pháp liên ngành đặt vấn đề/lĩnh vực trong “mạng /net” để có thể phân tích, đánh giá, nhìn nhận vấn đề, sự kiện, nhân vật lịch sử. Nếu chỉ căn cứ vào “chính sử” hay “huyền sử’ ta khó có thể lý giải, hiểu được cặn kẽ những gì đã xảy ra, bởi vì nếu không từ góc nhìn văn hóa học (theo nghĩa rộng nhất) thì “lịch sử” còn lại rất ít do tầm nhìn hạn hẹp của người đời sau.

Từ đó, việc đặt lại vấn đề với những điều tưởng chừng đã “an bài” trong lịch sử - văn hóa luôn là “thao tác tư duy” cần thiết. Từ một góc nhìn khác, một chiều kích khác, một phương pháp khác… sẽ cho những nhận thức, hiểu biết mới. Không thể có nhận thức mới nếu thao tác tư duy cũ. “Giải thiêng” các huyền thoại, huyền tích, cổ tích là một cách nhận biết những điều người xưa/dân gian ngầm gửi qua bề mặt câu chữ. “Đọc dưới những con chữ”, kể cả chính sử và huyền thoại, cổ tích.

4.Có một PHONG CÁCH TRẦN QUỐC VƯỢNG!

Tôi không có cái may mắn như nhiều bạn đồng nghiệp là tôi chỉ được học Thầy Vượng trực tiếp trong một vài chuyên đề khi Thầy vô Sài Gòn thỉnh giảng, cũng không được đi khảo sát hay khai quật do Thầy hướng dẫn. Tôi lại ở “vùng sâu vùng xa” nên chỉ có thể học “vọng” Thầy, bằng việc nghiềm ngẫm những bài viết của Thầy, “hóng hớt” trong những bữa nhậu với Thầy, và học lại từ bạn bè, những học trò được Thầy trực tiếp truyền dạy. Từ trải nghiệm cá nhân, tôi nhận thấy:

Ngoài học thuật, nhiều học trò của Thầy còn học ở Thầy thái độ dấn thân với xã hội: từ sự hiểu biết sâu sắc lịch sử - văn hóa đến sự mẫn cảm trước những hiện tượng báo động những bất ổn xã hội… Thầy đã có tiếng nói cảnh báo với cái Tâm của một người Trí thức chân chính.

Từ nền kiến tức cơ bản Thầy truyền cho, một vài học trò của Thầy có số phận phải “dịch chuyển” nhiều công việc khác nhau nhưng đều làm được và làm tốt là nhờ tự học theo phương pháp tiếp cận và tư duy phản biện của Thầy.

“Quảng giao” “làm bạn” với mọi người nhưng vẫn là chính mình, “hòa hợp” chứ đừng “hòa tan”. Cho nên, cũng như Thầy, có lúc học trò thấy cô đơn lắm, sự cô đơn mà phải qua hơn nửa đời người học trò mới chiêm nghiệm được, Thầy ạ!

Thế hệ học trò khảo cổ đầu tiên ở Sài Gòn của Thầy Trần Quốc Vượng, Thầy Hà Văn Tấn nay đã trưởng thành, “già rồi” nhưng vẫn luôn biết mình là những học trò nhỏ của các Thầy, nhất là về phương pháp tiếp cận vấn đề và tư duy phản biện. Bên cạnh đó, “Học Thầy (học tày) học bạn” là lời khuyên bảo của Thầy Vượng mà chúng tôi cố gắng làm theo.

Những gì Thầy Vượng để lại cho chúng tôi không chỉ là tri thức mà còn là cái tâm đối với nghề, cái tình đối với người.

Chúng tôi trưởng thành là nhờ điều đó!

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn