GS.VS NGUYỄN VĂN HIỆU – NGƯỜI ĐẶT NỀN MÓNG CHO KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THỜI KỲ HỘI NHẬP
Có những con người không bước ra từ chiến hào nhưng vẫn dành trọn cuộc đời cho một mặt trận đặc biệt của đất nước, đó là mặt trận khoa học. Giáo sư, Viện sĩ, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Văn Hiệu là một trong những trí thức tiêu biểu như thế. Sinh ngày 21 tháng 7 năm 1938 tại Cầu Đơ, nay thuộc phường Hà Cầu, quận Hà Đông, Hà Nội, ông sớm bộc lộ niềm say mê đặc biệt với khoa học và dành gần như trọn cuộc đời cho nghiên cứu, đào tạo và xây dựng nền khoa học Việt Nam.
Năm 1956, khi mới 18 tuổi, Nguyễn Văn Hiệu tốt nghiệp đại học ngành Vật lý với thành tích xuất sắc và bắt đầu giảng dạy tại Đại học Tổng hợp Hà Nội. Con đường khoa học của ông sau đó gắn liền với những nghiên cứu về vật lý lý thuyết, vật lý hạt cơ bản và nhiều lĩnh vực khoa học hiện đại. Năm 1964, ở tuổi 26, ông bảo vệ luận án tiến sĩ khoa học tại Liên Xô. Chỉ bốn năm sau, khi mới 30 tuổi, ông được công nhận chức danh giáo sư vật lý lý thuyết và vật lý toán tại Viện Liên hợp Nghiên cứu Hạt nhân Dubna và Đại học Tổng hợp Lomonosov.
Năm 1969, ông trở về Việt Nam khi đất nước vẫn đang trong những năm tháng chiến tranh. Thủ tướng Phạm Văn Đồng giao ông nhiệm vụ làm Viện trưởng Viện Vật lý, một trong những viện nghiên cứu đầu tiên của Viện Khoa học Việt Nam. Ở tuổi 31, Nguyễn Văn Hiệu trở thành một trong những viện trưởng trẻ nhất trong lịch sử khoa học Việt Nam. Trong điều kiện cơ sở vật chất còn vô cùng thiếu thốn, ông cùng các đồng nghiệp bắt tay xây dựng từng phòng thí nghiệm, từng nhóm nghiên cứu, từng thế hệ cán bộ khoa học.
Điều đáng nhớ là ông không chỉ quan tâm đến những công trình nghiên cứu của riêng mình. Với tư duy của một nhà khoa học đồng thời là một nhà tổ chức, Nguyễn Văn Hiệu dành nhiều tâm huyết xây dựng các ngành khoa học mới, phát triển đội ngũ nghiên cứu và tạo môi trường để các nhà khoa học trẻ trưởng thành. Trong những năm giữ trọng trách lãnh đạo Viện Khoa học Việt Nam và sau đó là Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ Quốc gia, ông có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển nhiều viện nghiên cứu đầu ngành, mở rộng các hướng nghiên cứu mới và thúc đẩy hợp tác quốc tế.
Trên phương diện nghiên cứu, những công trình của Nguyễn Văn Hiệu tập trung vào các vấn đề sâu của vật lý hạt cơ bản, vật lý lý thuyết chất rắn và quang tử. Những nghiên cứu về đối xứng và tương tác của các hạt cơ bản đã đóng góp vào sự phát triển của vật lý lý thuyết hiện đại và được cộng đồng khoa học quốc tế ghi nhận. Ông cũng mở rộng nghiên cứu sang nhiều lĩnh vực khác, trong đó có vật liệu, siêu dẫn và graphene.
Những thành tựu khoa học ấy mang lại cho ông nhiều giải thưởng và sự ghi nhận quốc tế. Năm 1986, ông được trao Giải thưởng Lenin về Khoa học và Kỹ thuật của Liên Xô. Năm 1996, ông được Nhà nước Việt Nam trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và Kỹ thuật. Năm 1982, ông được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, sau đó còn được bầu vào một số viện hàn lâm khoa học quốc tế khác.
Nhưng dấu ấn của GS.VS Nguyễn Văn Hiệu không chỉ nằm trong những công trình vật lý lý thuyết. Ông còn tham gia thúc đẩy nhiều hướng nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn đối với đất nước, từ nghiên cứu thoát lũ ở đồng bằng sông Cửu Long, chống sốt rét bằng nguyên liệu trong nước đến những bước đi ban đầu trong lĩnh vực khoa học và công nghệ vũ trụ thông qua chương trình Intercosmos. Những hoạt động ấy cho thấy một quan niệm xuyên suốt của ông: khoa học phải gắn với sự phát triển của đất nước và phải hướng tới những vấn đề thực tiễn của cuộc sống.
Một trong những đóng góp quan trọng khác của ông là mở rộng cánh cửa hợp tác quốc tế cho khoa học Việt Nam. Trong bối cảnh đất nước từng bước mở cửa và hội nhập, ông chủ động xây dựng các mối quan hệ hợp tác với các trung tâm khoa học, trường đại học và tổ chức nghiên cứu nước ngoài, qua đó tạo thêm cơ hội để các nhà khoa học Việt Nam tiếp cận tri thức mới, phương pháp nghiên cứu hiện đại và mạng lưới khoa học quốc tế.
Ông cũng đặc biệt coi trọng việc đào tạo thế hệ kế cận. Nhiều nhà khoa học Việt Nam trưởng thành từ những nhóm nghiên cứu do ông gây dựng hoặc được ông trực tiếp hướng dẫn, truyền cảm hứng. Những học trò của ông sau này tiếp tục trở thành các nhà khoa học, nhà quản lý và những người đóng góp cho sự phát triển của khoa học, công nghệ và giáo dục đại học Việt Nam.
Trong lĩnh vực giáo dục đại học, GS.VS Nguyễn Văn Hiệu là Hiệu trưởng sáng lập Trường Đại học Công nghệ thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội. Việc tham gia xây dựng một trường đại học theo định hướng công nghệ cho thấy tầm nhìn của ông về nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực khoa học và kỹ thuật chất lượng cao trong thời kỳ đất nước bước vào quá trình hội nhập và phát triển.
Ngày 23 tháng 1 năm 2022, GS.VS Nguyễn Văn Hiệu từ trần, hưởng thọ 84 tuổi. Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đánh giá ông là nhà vật lý có tầm vóc quốc tế, đồng thời là người có những đóng góp quan trọng trong tổ chức, quản lý, đào tạo và thúc đẩy hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ.
Cuộc đời GS.VS Nguyễn Văn Hiệu là câu chuyện về một con người dành gần như toàn bộ thời gian, trí tuệ và tâm huyết cho khoa học. Từ một sinh viên trẻ bước vào con đường nghiên cứu, ông trở thành một nhà vật lý được cộng đồng quốc tế ghi nhận, một nhà quản lý khoa học có tầm nhìn và một người thầy của nhiều thế hệ trí thức Việt Nam.
Nếu những người lính ngoài mặt trận bảo vệ từng tấc đất bằng lòng dũng cảm, thì những người làm khoa học góp phần bảo vệ và xây dựng tương lai đất nước bằng tri thức. GS.VS Nguyễn Văn Hiệu là một trong những người đã dành cả cuộc đời cho mặt trận ấy. Những viện nghiên cứu, những trường đại học, những thế hệ học trò và những công trình khoa học mà ông để lại chính là một phần di sản của một thế hệ trí thức đã góp sức đưa khoa học Việt Nam từng bước vươn ra thế giới.
Nhớ về GS.VS Nguyễn Văn Hiệu không chỉ là nhớ về một nhà vật lý lỗi lạc, mà còn là nhớ về một thế hệ trí thức Việt Nam luôn mang trong mình khát vọng làm cho khoa học phục vụ đất nước. Di sản lớn nhất của ông có lẽ không chỉ nằm ở những công trình đã công bố, mà còn ở niềm tin rằng một đất nước muốn phát triển bền vững phải biết trân trọng tri thức, đầu tư cho khoa học, đào tạo con người và chủ động hội nhập với thế giới.



