GỬI LẠI ĐẤT MẸ TUỔI THANH XUÂN
“Bất kỳ một sự vinh quang nào cũng cần phải trả bằng một giá. Và khó khăn gian khổ càng nhiều và thử thách càng nhiều, sự vinh quang đó càng trở nên rực rỡ”. Đó là một trong những dòng thư mà liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc đã gửi cho người con gái anh yêu, nhưng cũng là một chân lý được chứng thực qua biết bao trang sử đấu tranh của dân tộc.

Không có chiến thắng nào đến dễ dàng. Đằng sau hai tiếng “độc lập, tự do” là những năm dài kháng chiến, là những mùa xuân dang dở, là tuổi trẻ hóa thành bất tử nơi chiến hào, trận địa. Mỗi tấc đất bình yên hôm nay đều thấm đẫm mồ hôi, xương máu và cả sinh mạng của biết bao liệt sĩ đã ngã xuống để giành lại và giữ gìn nền độc lập cho Tổ quốc.
Trong số họ, nhiều cái tên đã trở thành huyền thoại - những anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh khi tuổi đời mới chỉ mười tám, đôi mươi, nhưng họ vẫn sống mãi trong trái tim Nhân dân, trong lịch sử dân tộc.
* Nguyễn Thị Minh Khai (1910-1941)

Đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai
Giữa bao thế hệ người trẻ đã hiến dâng tuổi xuân cho lý tưởng độc lập dân tộc, cái tên Nguyễn Thị Minh Khai vẫn luôn được nhắc đến với sự kính phục và tự hào. Bởi chị không chỉ là một người chiến sĩ cộng sản kiên trung, bất khuất, mà còn là biểu tượng sáng ngời của lòng dũng cảm, trí tuệ và khí phách phụ nữ Việt Nam.
Sinh năm 1910 tại Nghệ An, Nguyễn Thị Minh Khai (tên thật là Nguyễn Thị Vịnh) sớm bộc lộ tinh thần yêu nước. Khi còn là một nữ sinh, chị đã tham gia các phong trào đòi thả cụ Phan Bội Châu, truy điệu cụ Phan Châu Trinh. Mười bảy tuổi, chị trở thành người phụ nữ đầu tiên ở Vinh - Bến Thủy được kết nạp vào Hội Hưng Nam, rồi sau đó hoạt động trong Đảng Cộng sản Đông Dương.
Chị từng đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ quan trọng: huấn luyện đảng viên ở Trường Thi - Bến Thủy, làm việc tại Hương Cảng trong Văn phòng Phương Nam của Quốc tế Cộng sản, nơi chị được Bác Hồ trực tiếp huấn luyện. Năm 1937, chị trở về nước, được phân công vào Xứ ủy Nam Kỳ và giữ chức Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng.
Nhưng điều khiến thế hệ sau khắc ghi không chỉ ở những cương vị chị từng giữ, mà chính là bản lĩnh phi thường của một người chiến sĩ trong những giờ phút gian nan nhất. Người ta còn nhớ hình ảnh chị đọc tham luận tại Đại hội Quốc tế Cộng sản ở Moskva, lên án tội ác thực dân Pháp và khẳng định vai trò của phụ nữ Việt Nam. Người ta càng khắc ghi hình ảnh người mẹ trẻ, vừa sinh con đầu lòng đã lập tức trở lại chiến trường lửa đạn.
Và rồi, trong ngục tù Sài Gòn, giữa sự tra tấn tàn bạo và bản án tử của kẻ thù, Nguyễn Thị Minh Khai vẫn ngẩng cao đầu, cất tiếng hô vang lời thề sống chết vì Tổ quốc. Sáng ngày 28/8/1941, trước họng súng quân thù, chị giật tung giải bịt mắt, hô lớn: “Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm! Cách mạng Việt Nam thành công muôn năm!”.
Chị ngã xuống ở tuổi 31, để lại một tấm gương rạng ngời cho hậu thế.
* Lý Tự Trọng (1914 - 1931)

Liệt sĩ Lý Tự Trọng
Sinh ra trên đất Thái Lan năm 1914 trong một gia đình người Việt yêu nước, Lý Tự Trọng (tên thật là Lê Hữu Trọng) luôn mang trong mình khát vọng được trở về giải phóng quê hương khỏi xiềng xích thực dân. Mười tuổi, anh được đưa về Quảng Châu học tập, rồi tham gia tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội. Chính tại đây, anh được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đổi tên là Lý Tự Trọng như một cách gửi gắm kỳ vọng và niềm tin.
Thông minh, hoạt bát, ham học, Lý Tự Trọng không chỉ tiếp thu nhanh kiến thức mà còn sớm trở thành liên lạc viên, phiên dịch và cán bộ giao thông của tổ chức cách mạng. Năm 1931, khi mới 17 tuổi, trong một cuộc mít-tinh kỷ niệm khởi nghĩa Yên Bái tại Sài Gòn, anh đã nổ súng tiêu diệt tên mật thám định bắt đồng chí diễn thuyết. Hành động ấy khiến anh bị bắt, tra tấn và kết án tử hình.
Tại phiên tòa, anh đứng dậy tuyên bố đanh thép: “con đường của thanh niên chỉ là con đường cách mạng, không thể có con đường nào khác”. Câu nói ấy sau này đã trở thành lý tưởng sống, thôi thúc bao lớp thanh niên Việt Nam giữ vững niềm tin, bản lĩnh, tích cực học tập, lao động, sáng tạo để góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Rạng sáng 21/11/1931, Lý Tự Trọng bước lên máy chém, miệng hát vang Quốc tế ca, hô to những lời bất diệt về Đảng, về cách mạng. Anh ngã xuống khi tuổi đời chưa tròn hai mươi, nhưng đã sống trọn trọn vẹn một đời dấn thân vì lý tưởng, như ngọn lửa tiên phong soi đường cho lớp lớp thanh niên Việt Nam sau này.
* Phan Đình Giót (1922 - 1954)

Anh hùng, liệt sĩ Phan Đình Giót.
Sinh ra trong một gia đình nghèo ở tỉnh Hà Tĩnh, Phan Đình Giót từ nhỏ đã lớn lên với tấm lòng yêu nước và khát khao được cống hiến. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, anh gia nhập lực lượng tự vệ chiến đấu. Năm 1950, anh chính thức xung phong vào bộ đội chủ lực và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.
Anh tham gia nhiều chiến dịch lớn, như: chiến dịch Trung Du, chiến dịch Hoà Bình, chiến dịch Tây Bắc và Chiến dịch Điện Biên Phủ. Trận đánh nào, anh cũng xông pha nơi tuyến lửa. Bị thương nhiều lần nhưng chưa bao giờ lùi bước.
Cuối năm 1950 trong trận Chùa Tiếng, Phan Đình Giót dũng cảm xung phong, một mình bò lên đánh bộc phá phá sập lô cốt địch, rồi ném lựu đạn tiêu diệt nhiều tên địch, tạo điều kiện cho đơn vị chiến thắng. Mùa đông năm 1953, anh cùng đồng đội hành quân gần 500km, vượt qua nhiều đèo, dốc núi, mở đường kéo pháo cho Chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong mắt đồng đội, anh không chỉ là một chiến sĩ dũng cảm mà còn là “người anh cả” luôn quan tâm từ giấc ngủ đến bữa ăn của anh em.
Đêm 13/3/1954, trong trận đánh mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ tại cứ điểm Him Lam, khi đơn vị bị hỏa điểm địch bắn chặn dữ dội, Phan Đình Giót dù đã hai lần bị thương vẫn không rời trận địa. Anh bò lên, áp sát lô cốt số 3, bắn tiểu liên vào lỗ châu mai. Khi súng hết đạn, anh hét vang: “Quyết hy sinh vì Đảng, vì dân!”, rồi rướn người, lấy thân mình lấp lỗ châu mai, mở đường cho đồng đội xung phong tiêu diệt cứ điểm.
Phan Đình Giót hy sinh ở tuổi 32. Hành động dũng cảm của anh đã trở thành biểu tượng của tinh thần chiến đấu quên mình, được ghi vào lịch sử dân tộc như một bản hùng ca bất tử.
* Tô Vĩnh Diện (1924 - 1954)

Anh hùng, liệt sĩ Tô Vĩnh Diện
Sinh năm 1924 tại tỉnh Thanh Hóa, Tô Vĩnh Diện sớm tham gia dân quân địa phương rồi xung phong vào bộ đội năm 1949. Trải qua nhiều đơn vị, vị trí chiến đấu, anh luôn gương mẫu, tận tụy và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tháng 5/1953, khi quân đội ta thành lập các đơn vị pháo cao xạ để chuẩn bị cho chiến dịch lớn, Tô Vĩnh Diện được triệu tập để tham gia lực lượng, rồi cùng đơn vị đi huấn luyện tại Trung Quốc. Tháng 12/1953, anh trở về nước tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ với cương vị Tiểu đội trưởng pháo cao xạ 37mm, Đại đội 827, Trung đoàn phòng không 367.
Cuối tháng 1/1954, đơn vị nhận lệnh kéo pháo vào trận địa. Đường đi hiểm trở, dốc cao, trời mưa, nhiều đoạn chỉ có thể di chuyển bằng sức người. Đêm 1/2/1954, khi kéo pháo ra khỏi trận địa tại dốc Chuối - nơi vô cùng hiểm trở, dây tời bất ngờ đứt, khẩu pháo lao nhanh xuống dốc. Trong khoảnh khắc sinh - tử, anh hô lớn: “Thà hy sinh, quyết bảo vệ pháo!”, rồi lao mình vào bánh pháo để chèn lại.
Pháo dừng. Nhưng Tô Vĩnh Diện đã nằm xuống. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, anh chỉ kịp hỏi: “Pháo có việc gì không?”. Cái chết anh dũng của anh khiến toàn đơn vị biến đau thương thành hành động, quyết tâm đưa pháo vào trận địa đúng thời gian.
Năm 1956, Tô Vĩnh Diện được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Tấm gương hy sinh anh dũng của Tô Vĩnh Diện đã trở thành biểu tượng cao đẹp về tinh thần quên mình vì nhiệm vụ.
* Trần Văn Ơn (1931 - 1950)

Anh hùng, liệt sĩ Trần Văn Ơn
Ngày 9/1/1950, trong một cuộc biểu tình của hơn 6.000 học sinh, sinh viên và giáo viên tại Sài Gòn nhằm đòi trả tự do cho những người bị bắt, Trần Văn Ơn, học sinh Trường Pétrus Ký, đã ngã xuống sau phát súng của chính quyền thực dân. Anh hy sinh khi chưa tròn 19 tuổi - một cái chết gây chấn động cả nước và thắp lửa cho phong trào học sinh, sinh viên yêu nước miền Nam lúc bấy giờ.
Trần Văn Ơn sinh năm 1931 trong một gia đình nông dân nghèo tại tỉnh Bến Tre (nay là tỉnh Vĩnh Long). Khi giặc tàn phá xóm làng, gia đình anh phải lưu lạc về Sài Gòn sinh sống.
Không chỉ nổi bật bởi thành tích học tập xuất sắc, Trần Văn Ơn còn là một học sinh lễ độ, hiếu nghĩa, tích cực tham gia phong trào học sinh kháng chiến nội thành, là “cột trụ” của phong trào yêu nước ở Trường Pétrus Ký những năm 1947-1950.
Anh từng tham gia nhiều cuộc bãi khóa, biểu tình phản đối chính quyền thân Pháp đàn áp học sinh, đặc biệt là cuộc bãi khóa lớn ngày 23/11/1949. Đến ngày 9/1/1950, trong cuộc biểu tình ôn hòa đòi thả người, anh vẫn hiên ngang tiến lên phía trước, che chở cho bạn bè, trước khi trúng đạn và hy sinh.
Lễ tang của Trần Văn Ơn ngày 12/1/1950 đã trở thành cuộc biểu dương lực lượng khổng lồ với hơn 300.000 người dân Sài Gòn xuống đường.
Noi gương và ghi nhận tinh thần đấu tranh bất khuất của anh Trần Văn Ơn và học sinh, sinh viên trong những ngày đầu kháng chiến, Đại hội toàn quốc Liên đoàn Thanh niên Việt Nam lần thứ nhất (tháng 2/1950) đã quyết định lấy ngày 9/1 hàng năm là Ngày truyền thống học sinh, sinh viên.
Năm 2000, Trần Văn Ơn được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
* Bế Văn Đàn (1931 - 1954)

Anh hùng, liệt sĩ Bế Văn Đàn
Sinh năm 1931, tại tỉnh Cao Bằng, Bế Văn Đàn là người dân tộc Tày, sớm mồ côi mẹ, từng đi ở cho địa chủ từ nhỏ. Trở về quê khi mới hơn mười tuổi, anh tham gia du kích và đến năm 1949 xung phong vào bộ đội. Trong mọi chiến dịch, anh luôn gương mẫu, dũng cảm, hoàn thành tốt nhiệm vụ, được đồng đội tin yêu.
Mùa Xuân năm 1954, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang vào giai đoạn ác liệt, Bế Văn Đàn được phân công làm liên lạc cho tiểu đoàn. Tại mặt trận Mường Pồn, khi quân Pháp liên tiếp phản kích hòng phá vỡ vòng vây, anh đã xung phong xuống đại đội truyền lệnh chiến đấu bằng mọi giá giữ chân địch để các đơn vị khác triển khai lực lượng.
Trận chiến ngày càng ác liệt, quân ta thương vong nhiều. Một khẩu trung liên bị bỏ trống do xạ thủ hy sinh, một khẩu trung liên khác cũng không bắn được vì không có chỗ đặt súng. Không do dự, Bế Văn Đàn chạy lại, ghì chặt chân súng trên vai mình, hô đồng đội nổ súng tiêu diệt kẻ thù.
Anh đứng làm giá súng sống giữa làn đạn, cho đến khi bị thương và ngã xuống, hai tay vẫn ghì chặt khẩu súng trên vai. Sự hy sinh quả cảm của anh đã cổ vũ cán bộ, chiến sĩ trên toàn mặt trận hăng hái thi đua giết giặc lập công, góp phần làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.
Năm 1955, anh được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Tên anh sống mãi trong những con đường, mái trường và trong những trang sử hào hùng của dân tộc.
* Võ Thị Sáu (1933 - 1952)

Anh hùng, Liệt sĩ Võ Thị Sáu
Nữ anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu sinh năm 1933 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là TP Hồ Chí Minh).Từ tuổi thiếu niên, chị đã tham gia cách mạng, làm giao liên, tiếp tế... Chị được kết nạp vào Đội công an xung phong Đất Đỏ khi mới 14 tuổi. Sau đó, chị tham gia phá tề, trừ gian, giết cai tổng Tòng, cùng đồng đội ném lựu đạn phá cuộc mít tinh kỷ niệm quốc khánh Pháp do ngụy quyền tổ chức. Chị còn trực tiếp tiêu diệt nhiều lính Pháp ở Vũng Tàu.
Tháng 12/1949, trong một lần hoạt động tại Đất Đỏ, chị Võ Thị Sáu đã bị sa vào tay giặc. Dù nhiều lần bị tra tấn dã man nhưng chị quyết không khai báo. Năm 1952, thực dân Pháp đưa chị ra Côn Đảo xử bắn. Trước lúc hy sinh, chị kiên cường tuyên bố: “Không cần bịt mắt tôi. Hãy để tôi nhìn Tổ quốc đến giây phút cuối cùng!” và hô vang: “Việt Nam độc lập muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm!”. Ở tuổi 19, chị đã hiến dâng trọn vẹn tuổi xuân cho lý tưởng cách mạng.
Tấm gương kiên trung, khí phách hiên ngang của Võ Thị Sáu đã vượt lên trên cái chết, trở thành biểu tượng bất diệt của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.
Năm 1993, chị được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Tên chị trở thành tên trường, tên đường, tên đội và sống mãi trong lòng các thế hệ người Việt Nam như một huyền thoại rực sáng của lòng yêu nước và tinh thần bất khuất.
* Nguyễn Viết Xuân (1934 - 1964)

Anh hùng, Liệt sĩ Nguyễn Viết Xuân
Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Viết Xuân sinh năm 1934 tại Vĩnh Phúc (nay là Phú Thọ), trong một gia đình nông dân nghèo. Từ nhỏ, anh đã sống cuộc đời cơ cực và sớm giác ngộ cách mạng. Năm 1952, anh xung phong nhập ngũ, từng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ và giữ nhiều cương vị từ chiến sĩ trinh sát đến chính trị viên đại đội pháo cao xạ. Dù ở bất cứ vị trí nào, Nguyễn Viết Xuân luôn thể hiện tinh thần quyết tâm, dũng cảm và trách nhiệm cao.
Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, ngày 18/11/1964, tại trận địa Chalo, khi máy bay Mỹ ồ ạt oanh tạc, giữa làn đạn bom khốc liệt, anh đã dõng dạc hô vang khẩu lệnh lịch sử “Nhằm thẳng quân thù, bắn!" Câu nói ấy không chỉ nâng cao tinh thần chiến đấu cho đơn vị, mà còn trở thành biểu tượng của lòng quả cảm, khẩu hiệu tiến công lan tỏa khắp các mặt trận.
Dù bị thương nặng trong trận chiến, anh vẫn giữ vững tinh thần thép, chỉ đạo, động viên đồng đội, bàn giao nhiệm vụ và để lại những lời dặn dò cuối cùng về công tác tổ chức, xây dựng lực lượng. Anh hy sinh khi mới 30 tuổi.
Năm 1967, anh được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Tinh thần bất khuất, lý tưởng cao đẹp và khẩu hiệu “Nhằm thẳng quân thù, bắn!” của Nguyễn Viết Xuân đã vượt lên thời gian, trở thành biểu tượng bất tử của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.
* Nguyễn Văn Trỗi (1940 - 1964)
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.

Anh hùng, liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi đã anh dũng đấu tranh chống đế quốc Mỹ đến hơi thở cuối cùng.
Sinh năm 1940 tại Quảng Nam (nay là thành phố Đà Nẵng), mồ côi mẹ từ nhỏ, tuổi thơ gian khổ đã tôi luyện trong anh ý chí kiên cường. Tại Sài Gòn, anh giác ngộ cách mạng, gia nhập Biệt động thành và tình nguyện thực hiện nhiệm vụ ám sát Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara bằng cách đặt mìn ở cầu Công Lý năm 1964.
Kế hoạch chưa thành, anh bị bắt và kết án tử hình. Dù bị tra tấn dã man, Nguyễn Văn Trỗi vẫn giữ trọn khí tiết người chiến sĩ cộng sản. Ra pháp trường Chí Hòa ngày 15/10/1964, anh hiên ngang từ chối bịt mắt, sẵn sàng đối diện với cái chết trong tư thế bất khuất. Trước khi bị bắn, anh đã dõng dạc hô vang: “Đả đảo đế quốc Mỹ! Việt Nam muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm!”.
Sự hy sinh anh dũng của Nguyễn Văn Trỗi đã làm chấn động dư luận quốc tế. Hình ảnh đôi mắt sáng ngời, hai tay bị trói nhưng vẫn hiên ngang nhìn thẳng quân thù trở thành cảm hứng cho hàng loạt tác phẩm văn học, âm nhạc, hội họa. Trong đó, cuốn sách “Sống như anh” đã được các chiến sĩ truyền tay nhau học tập. Tên anh được đặt cho nhiều con đường, trường học, sân vận động và giải thưởng trong và ngoài nước.
Dù Nguyễn Văn Trỗi hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ nhưng ngọn lửa cách mạng trong anh mãi trường tồn, thắp sáng ngọn lửa yêu nước và tinh thần dấn thân vì Tổ quốc cho các thế hệ thanh niên Việt Nam.
* Đặng Thùy Trâm (1942 - 1970)

Anh hùng, liệt sĩ Đặng Thùy Trâm
Sinh năm 1942 trong một gia đình trí thức gốc Huế, lớn lên tại Hà Nội, Đặng Thùy Trâm từ nhỏ đã sớm thể hiện tư chất thông minh, giàu cảm xúc và có lý tưởng sống rõ ràng. Yêu văn học, chị từng mơ trở thành cô giáo, nhưng cuối cùng theo ngành y, nối nghiệp cha mẹ và thi đỗ Trường Đại học Y Hà Nội năm 1961.
Sau khi tốt nghiệp xuất sắc vào năm 1966, chị từ chối những điều kiện ổn định ở Thủ đô, tình nguyện vượt Trường Sơn vào chiến trường Quảng Ngãi. Tại vùng đất khốc liệt ấy, chị làm Trưởng bệnh xá Đức Phổ, trực tiếp tham gia cứu chữa thương binh, dìu dắt các lớp y tá sơ cấp, chăm sóc nhân dân, đồng đội bằng tất cả y đức và tình người. Dù sống trong thiếu thốn và hiểm nguy thường trực, chị vẫn giữ vững lý tưởng và tâm hồn tràn đầy nhân ái.
Ngày 22/6/1970, chị anh dũng hy sinh trong một trận càn của Mỹ khi chưa tròn 28 tuổi đời.
Hai tập nhật ký chị viết từ năm 1968 - 1970 được một cựu binh Mỹ giữ lại và trao trả cho gia đình. Sau khi được xuất bản, “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” đã trở thành hiện tượng văn học gây chấn động, không chỉ ghi lại một phần chiến tranh khốc liệt, mà còn khắc họa chân dung một người trí thức - chiến sĩ sống tử tế, đầy trách nhiệm và can đảm vì lý tưởng tự do, độc lập.
Năm 2006, chị được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Tên chị được đặt cho nhiều trường học, con đường, bệnh xá và ngọn lửa từ trái tim đầy yêu thương ấy vẫn cháy sáng trong trái tim biết bao thế hệ thanh niên Việt Nam.
* Nguyễn Văn Thạc (1952 - 1972)

Nhật ký “Mãi mãi tuổi hai mươi” của Nguyễn Văn Thạc (1952 - 1972)
Sinh năm 1952 tại Hà Nội, trong một gia đình thợ thủ công nghèo đông con, Nguyễn Văn Thạc vượt lên nghịch cảnh bằng nghị lực phi thường và tài năng vượt trội. Suốt 10 năm phổ thông, anh đều đạt loại giỏi toàn diện, nổi bật nhất là giải Nhất học sinh giỏi Văn toàn miền Bắc năm 1970. Được lựa chọn đi học ở Liên Xô, nhưng theo lệnh tổng động viên, anh ở lại, rồi tình nguyện nhập ngũ vào tháng 9/1971, gác lại giấc mơ giảng đường.
Là người yêu văn, anh viết nhiều thư và nhật ký. Những lá thư anh gửi bạn bè, gia đình, người yêu không chỉ là dòng tâm tình, mà còn là những suy tư sâu sắc về cuộc sống, thời cuộc và lẽ sống của tuổi trẻ trong chiến tranh. Đặc biệt, anh từng nhiều lần tiên cảm về ngày đất nước thống nhất - 30/4/1975 - như một lời hẹn linh thiêng về “hạnh phúc”.
Từ khi nhập ngũ đến lúc hy sinh, anh đã ghi lại 240 trang nhật ký đầy xúc cảm, quan sát tỉ mỉ cuộc sống chiến sĩ, nhân dân, đồng đội trên đường hành quân vào chiến trường. Những trang viết là sự đan xen giữa tinh thần lạc quan, bản lĩnh người lính và những trăn trở của một trí thức trẻ chưa tròn 20 tuổi.
Ngày 30/7/1972, Nguyễn Văn Thạc hy sinh tại chiến trường Quảng Trị, mang theo dang dở tuổi hai mươi và tập nhật ký chưa khép lại. Sau này, cuốn nhật ký ấy được xuất bản, trở thành một hiện tượng văn học, một di sản tinh thần sống động, minh chứng cho vẻ đẹp lý tưởng, tình yêu nước và khát vọng sống, khát vọng cống hiến của cả một thế hệ thanh niên Việt Nam thời chống Mỹ.
* 10 cô gái ngã ba Đồng Lộc

Lực lượng dân công hỏa tuyến lấp hố bom của địch, mở đường mới cho xe ra chiến trường tại khu vực ngã ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh).
Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Ngã ba Đồng Lộc (tỉnh Hà Tĩnh) là điểm "yết hầu" của đường Trường Sơn, nơi giao thoa sinh tử giữa hậu phương và tiền tuyến. Từ năm 1964 đến 1972, đặc biệt cao điểm năm 1968, nơi đây trở thành “tọa độ lửa” khi không quân Mỹ ném gần 50.000 quả bom nhằm triệt phá tuyến vận tải chiến lược. Nhưng vượt lên mưa bom bão đạn, hàng vạn người đã kiên cường bám trụ chiến đấu, trong đó có những người con gái tuổi đôi mươi, mang trong tim lý tưởng và khát vọng hòa bình.
Tiêu biểu là Tiểu đội 4, Đại đội 552, Tổng đội Thanh niên xung phong 55 tỉnh Hà Tĩnh gồm 10 cô gái trẻ tuổi do Võ Thị Tần làm tiểu đội trưởng. Nhiệm vụ của họ là san lấp các hố bom, giữ mạch giao thông thông suốt.
Trưa ngày 24/7/1968, Tiểu đội 4 được lệnh san lấp hố bom ở khu vực địch vừa thả bom để nhanh chóng thông đường cho xe qua. Họ làm việc không ngơi tay và đã ba lần các cô bị vùi lấp, nhưng đều rũ đất đá đứng dậy tiếp tục làm việc. Đến 16 giờ 30 phút, trận bom thứ 15 trong ngày dội xuống, sau tiếng gầm rít của tiếng bom dội là bầu không khí tĩnh lặng… Tất cả 10 cô gái trẻ tuổi của tiểu đội 4, đại đội 552 đã hy sinh.
10 đóa hoa bất tử ấy gồm: Võ Thị Tần, Hồ Thị Cúc, Nguyễn Thị Nhỏ, Dương Thị Xuân, Võ Thị Hợi, Nguyễn Thị Xuân, Hà Thị Xanh, Trần Thị Hường, Trần Thị Rạng và Võ Thị Hà - những người con gái giản dị nhưng đã hóa thân thành huyền thoại. Lá thư của chị Tần gửi mẹ với giọng văn hồn nhiên giữa lửa đạn, hay hình ảnh chị Hồ Thị Cúc được tìm thấy sau ba ngày, tay vẫn cào đất tìm lối thoát, là những ký ức chạm đến trái tim bao thế hệ.
Ngày 7/6/1972, Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lao động cho tiểu đội. Năm 2013, Ngã ba Đồng Lộc được công nhận là Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt. Tên các chị không chỉ khắc vào bia đá mà còn sống mãi trong lòng Nhân dân như biểu tượng của tuổi trẻ anh hùng, của người phụ nữ Việt Nam bất khuất.
* 13 thanh niên xung phong Truông Bồn

13 liệt sỹ thanh niên xung phong hy sinh tại Truông Bồn.
Trong khói lửa khốc liệt của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Truông Bồn (tỉnh Nghệ An) là một trong những điểm trọng yếu trên tuyến giao thông chiến lược - nơi kết nối huyết mạch vận chuyển chi viện giữa hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam. Do đó, nơi đây trở thành trọng điểm đánh phá ác liệt của không quân Mỹ, hứng chịu hàng nghìn trận bom rải thảm nhằm triệt phá tuyến tiếp vận của ta.
Giữa “tọa độ chết” ấy, lực lượng thanh niên xung phong (TNXP) không quản ngại hiểm nguy, ngày đêm bám trụ, đảm bảo thông tuyến. Nhiệm vụ của họ không chỉ là san lấp hố bom, sửa đường, mà còn cứu hộ, dẫn đường cho xe qua trọng điểm một cách an toàn, kịp thời chi viện cho chiến trường miền Nam.
Trong đó, Đại đội TNXP 317 - Tổng đội TNXP chống Mỹ cứu nước tỉnh Nghệ An là một trong những đơn vị dũng cảm, kiên cường, để lại dấu ấn bi tráng không thể nào quên trong lịch sử dân tộc.
Rạng sáng ngày 31/10/1968, chỉ một ngày trước thời điểm Mỹ tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc, tiểu đội 2 của Đại đội 317 gồm 14 người nhận nhiệm vụ ra đường làm nhiệm vụ đảm bảo giao thông. Đúng 5 giờ sáng, trong lúc các chị vừa hoàn thành nhiệm vụ san lấp, chưa kịp rút khỏi trận địa thì một loạt bom từ máy bay Mỹ trút xuống Truông Bồn. Trong khoảnh khắc ấy, 13 cán bộ, đội viên TNXP đã anh dũng hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ, có người mới vừa tròn 17.
Câu chuyện về sự hy sinh của 13 TNXP tại Truông Bồn là một bản anh hùng ca bất tử của lòng yêu nước, của tinh thần xả thân vì độc lập dân tộc. Các anh, các chị đã nằm lại giữa cung đường khét mùi bom đạn, máu thịt hòa vào đất đá để giữ vững tuyến giao thông huyết mạch, để từng đoàn xe chở vũ khí, lương thực vượt qua bom đạn đến được chiến trường.
Sự hy sinh của các anh hùng liệt sĩ không chỉ là biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, mà còn nhắc nhở các thế hệ hôm nay về giá trị của hòa bình - điều đã phải đánh đổi bằng máu xương và tuổi thanh xuân của biết bao người con đất Việt. Để từ đó, mỗi người thêm trân trọng những gì đang có, sống trách nhiệm hơn với đất nước và mang hết sức mình góp phần xây dựng Tổ quốc ngày càng giàu mạnh.



