Cựu chiến binh

HÀ NGỌC TÁM – KÝ ỨC CỦA NGƯỜI LÍNH TRẺ NĂM ẤY

"Con đường cách mạng bắt đầu từ một đốm lửa nhỏ của lòng yêu nước, bùng lên thành ngọn đuốc soi đường vượt qua mọi đêm dài nô lệ."

Khánh Hòa29/06/2026Cao Thị Như Ngà (Chi đoàn Trường Mầm non Ninh Hải)6 lượt xem0 lượt chia sẻ
HÀ NGỌC TÁM – KÝ ỨC CỦA NGƯỜI LÍNH TRẺ NĂM ẤY

HÀ NGỌC TÁM – KÝ ỨC CỦA NGƯỜI LÍNH TRẺ NĂM ẤY

"Con đường cách mạng bắt đầu từ một đốm lửa nhỏ của lòng yêu nước, bùng lên thành ngọn đuốc soi đường vượt qua mọi đêm dài nô lệ."

Chiến tranh đã qua đi nhưng những năm tháng thời hoa lửa hào hùng ấy vẫn còn in đậm trong ký ức của những người lính từng đi qua bom đạn. Đó là những câu chuyện thấm đẫm máu, nước mắt và lòng yêu nước nồng nàn của một thế hệ sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Trong dòng ký ức ấy, câu chuyện về ông Hà Ngọc Tám sinh năm 1936, hiện đang sinh sống tại TDP Khánh Giang, phường Ninh Chử là một minh chứng xúc động cho tinh thần yêu nước và ý chí kiên cường của người lính cách mạng.

Vào một buổi trưa hè oi bức, chúng tôi đã đến thăm ông và được nghe ông kể lại những chiến công hào hùng năm ấy. Tuổi thơ của ông chỉ có tiếng súng bên tai, cảnh đói nghèo và nỗi đau mất nước. Đó là một phần ký ức không thể nào quên của những thế hệ ông cha ta ngày xưa. Nhìn vào ông - một con người gầy gò, thấp bé như thế đã phải trải qua những gì để có thể lắp đầy trên bức tường là nhưng bằng khen và huy chương cao quý ấy.

Năm 1954, khi vừa tròn 18 tuổi, ông quyết định bước vào con đường cách mạng. Đó cũng là năm chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội khắp năm châu. Lá cờ chiến thắng tung bay trên nóc hầm tướng De Castries đã mở ra một trang sử mới cho dân tộc Việt Nam. Sau Hiệp định Geneve, ông được tập kết ra miền Bắc. Người thanh niên tuổi 18 với lòng yêu nước nhiệt huyết ấy không hề biết rằng đây sẽ là một hành trình kéo dài hơn ba mươi năm cống hiến cho Tổ quốc.

Những năm tháng ở miền Bắc là quãng thời gian học tập, rèn luyện và chuẩn bị cho nhiệm vụ lớn lao phía trước. Ông kể với chúng tôi rằng, điều thiêng liêng và trân quý nhất đời ông là có cơ hội được gặp vị lãnh tụ vĩ đại - Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đến tận bây giờ khi kể lại, chúng tôi vẫn còn thấy được trong ông niềm cảm xúc mãnh liệt với ký ức tươi đẹp năm đó. Hình ảnh vị lãnh tụ với bộ quần áo ka-ki giản dị, ánh mắt hiền từ và lời căn dặn chân tình đã trở thành động lực theo ông suốt những năm tháng chiến tranh.

Ba tháng đi bộ xuyên Trường Sơn. Năm 1959, khi cách mạng miền Nam cần người, ông nhận lệnh trở lại chiến trường. Không tàu hỏa. Không xe cơ giới. Không những con đường bằng phẳng. Chỉ có đôi chân, chiếc ba lô và tinh thần quyết tâm của những người lính trẻ mang theo lòng yêu nước mãnh liệt. Cuộc hành quân từ Bắc vào Nam kéo dài suốt ba tháng, đoàn quân lặng lẽ đi giữa đại ngàn Trường Sơn. Ban ngày tránh máy bay địch, đêm đến thì men theo những con đường mòn xuyên rừng. Có những ngày phải vượt suối, nước lũ dâng cao đến ngực, có những đêm ngủ bên gốc cây giữa rừng sâu. Có những người đồng đội bị sốt rét rừng hành hạ đến kiệt sức nhưng vẫn cắn răng bước tiếp. Mỗi bước chân là một bước tiến gần hơn đến miền Nam đang ngày đêm chờ đợi. Sau ba tháng hành quân đầy gian khổ, ông cùng đồng đội đặt chân đến chiến trường. Từ đó bắt đầu những năm tháng ác liệt nhất của cuộc đời.

Mười lăm năm chinh chiến trong mưa bom bão đạn. Từ năm 1960 đến năm 1975, ông chiến đấu liên tục trên nhiều chiến trường miền Đông Nam Bộ và Ninh Thuận. Những năm ấy, bom đạn phủ kín bầu trời. Máy bay gầm rú ngày đêm. Những trận càn quét diễn ra liên tiếp. Người chiến sĩ cách mạng phải sống trong rừng sâu, thiếu thốn lương thực, thuốc men và luôn đối mặt với cái chết. Có những trận đánh kéo dài nhiều ngày đêm. Có những đồng đội sáng còn trò chuyện bên nhau, chiều đã nằm lại trên chiến trường. Ông từng chứng kiến biết bao sự hy sinh. Nhưng chính những mất mát ấy càng làm cho ý chí chiến đấu của những người lính thêm mãnh liệt. Họ chiến đấu không chỉ cho bản thân mình mà còn chiến đấu cho độc lập dân tộc, cho tương lai của những thế hệ mai sau. Chúng tôi cảm nhận được ánh mắt xót xa khi ông nhắc đến những người đồng đội cũ.

Trận đánh Tà Lủ Ma Túy. Trong rất nhiều trận đánh đã trải qua, trận đánh mà ông nhớ nhất là trận Tà Lủ Ma Túy. Đó là một trận chiến có ý nghĩa quan trọng trong việc giải phóng và mở rộng căn cứ địa cách mạng. Địch phòng thủ chặt chẽ. Địa hình hiểm trở. Việc tiếp cận mục tiêu vô cùng khó khăn. Nhưng với tinh thần quyết chiến quyết thắng, quân giải phóng đã vượt qua mọi trở ngại. Tiếng súng vang lên giữa núi rừng. Những người lính lao lên phía trước bất chấp hiểm nguy. Sau nhiều giờ chiến đấu quyết liệt, quân ta giành thắng lợi. Căn cứ địa được mở rộng. Thế trận cách mạng được củng cố. Đó không chỉ là chiến thắng quân sự. Đó còn là chiến thắng của lòng quả cảm và niềm tin tất thắng. Nhiều năm đã qua đi nhưng mỗi khi nhắc đến trận đánh ấy, ánh mắt ông vẫn ánh lên niềm tự hào của người lính đã góp phần làm nên lịch sử.

Mùa xuân năm 1975, chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Miền Nam hoàn toàn giải phóng. Sau hơn hai mươi năm xa cách, Bắc và Nam lại chung một màu cờ đỏ thắm. Đối với ông Hà Ngọc Tám và hàng triệu người lính khác, đó là khoảnh khắc mà họ đã đánh đổi cả tuổi thanh xuân đầy máu và nước mắt để giành lấy. Những giọt nước mắt ngày chiến thắng không chỉ là niềm vui. Đó còn là sự tưởng nhớ đến những đồng đội đã mãi mãi nằm lại trên chiến trường

Chiến tranh kết thúc, người lính Hà Ngọc Tám trở về quê hương Ninh Thuận. Ông không chọn nghỉ ngơi mà tiếp tục cống hiến cho quê hương trên mặt trận mới – mặt trận xây dựng và phát triển đất nước.

Năm 1976, ông được giao nhiệm vụ làm Bí thư xã Dư Khánh. Với kinh nghiệm và bản lĩnh của người cán bộ từng trải qua chiến tranh, ông đã góp phần ổn định đời sống nhân dân và xây dựng chính quyền địa phương trong những năm đầu sau giải phóng.

Năm 1977, ông được bổ nhiệm giữ chức Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân. Trên cương vị mới, ông luôn giữ vững phẩm chất của người cán bộ cách mạng, tận tụy phục vụ nhân dân và bảo vệ pháp luật.

Đến năm 1981, ông tiếp tục được tín nhiệm giao giữ chức Phó Chủ tịch huyện Ninh Hải. Trong suốt quá trình công tác, ông luôn đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, góp phần vào sự phát triển của địa phương trong những năm đầu xây dựng quê hương sau chiến tranh.

Năm 1989, sau nhiều năm cống hiến không ngừng nghỉ, ông nghỉ hưu. Tuy rời khỏi công tác, nhưng ông vẫn luôn là tấm gương sáng cho con cháu noi theo.

Dù ở cương vị nào, ông cũng giữ nguyên phẩm chất của người chiến sĩ cách mạng: tận tụy, trách nhiệm và gần gũi với nhân dân. Ông luôn tâm niệm rằng người cán bộ phải sống vì dân, làm việc vì dân. Chính điều đó đã giúp ông nhận được sự tin yêu và kính trọng của đồng nghiệp cũng như bà con địa phương.

Đến tận hôm nay, khi mái tóc đã bạc trắng theo thời gian, ông Hà Ngọc Tám vẫn là nhân chứng sống của một thời kỳ hào hùng trong lịch sử dân tộc. Từ người thanh niên mười tám tuổi tham gia cách mạng, đến người lính hành quân xuyên Trường Sơn, từ chiến sĩ giải phóng quân đến người cán bộ tận tụy của quê hương, cuộc đời ông là một bản trường ca về lòng yêu nước và sự hy sinh thầm lặng của cả một thế hệ đi trước. Câu chuyện của ông mãi là một bài học quý giá, là ngọn lửa truyền lại cho thế hệ trẻ hôm nay về tình yêu Tổ quốc và tinh thần phụng sự không bao giờ tắt.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn