Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Hà Nội 60 ngày khói lửa

Cuốn sách này được Nhà xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản lần đầu năm 1964, nay được Nhà xuất bản Hà Nội tái bản theo chủ trương của Thành uỷ và đáp ứng nguyện vọng của các cựu chiến binh Hà Nội và Sư đoàn 308 Anh hùng. Cuốn sách ra mắt bạn đọc đúng vào dịp kỷ niệm lần thứ 60 ngày toàn quốc kháng chiến chống Pháp (19-12-1946). Cuốn sách do Trung tướng Vương Thừa Vũ, nguyên chỉ huy trưởng mặt trận Hà Nội mùa đông năm 1946, viết về một sự kiện lịch sử trọng đại và oai hùng của Thủ đô Hà Nội góp

Lai Châu24/03/2026Vương Thừa Vũ (Sìn Hồ)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
HÀ NỘI, THĂNG LONG XƯA

Năm 1010 (tức năm Canh Tuất), Lý Công Uẩn tức Lý Thái Tổ đã thiên đô từ thành Hoa Lư1 (Hoa Lư là kinh đô nước ta dưới thời Đinh và Tiền Lê, nay thuộc huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình) về Thăng Long.

Thăng Long nghĩa là rồng bay. Con rồng là tượng trưng cho sức mạnh vô địch, khi trở mình thì rung chuyển trời đất, khi phủ phục thì uy nghi và kiên cường.

Thủ đô nước ta mang cái tên đẹp đẽ và oai hùng đó hơn 800 năm, mãi đến năm 1831 mới đổi là Hà Nội. Hà Nội nằm bên hữu ngạn sông Hồng, phía trước có các sông Cầu, sông Kinh Thày, sông Thái Bình che chở. Sau lưng tựa vào dãy núi Tam Đảo cao ngất, quanh năm mây mù bao phủ. Bên trái, bên phải có dãy núi Đông Triều và Trường Sơn. Tam Điệp chạy dài ra sát biển Đông, như hai cánh tay rắn chắc, khuỳnh ra sẵn sàng bảo vệ Thủ đô yêu dấu. Hà Nội là hợp điểm của các đường giao thông thủy bộ, nối liền trung du với đồng bằng, núi rừng với bờ biển. Có lẽ, đó cũng là yêu tố quan trọng để Hà Nội bền vững và phát triển. Và có lẽ đó cũng là nguyên nhân trực tiếp khiến các đội quân xâm lược trước kia cố tình đánh chiếm Hà Nội rồi tỏa ra xâm chiếm dần cả nước ta.


Hà Nội có khu 36 phố phường. Đó là những nơi tiêu biểu cho cố đô Thăng Long. Và đó cũng là những "đám lửa" thiêu quân giặc ngay trong lòng Hà Nội những ngày đầu kháng chiến. Xung quanh những phố phường chi chít ấy, ở phía nam và phía tây, có biết bao biệt thự, lâu đài vừa kiên cố, vừa lộng lẫy, có đường lớn rộng thênh thang, có vườn hoa đủ màu sắc, có những hàng cây cổ thụ xòe bóng mát che kín mặt đường. Trước Cách mạng tháng Tám, đây không phải là những nơi nhân dân ta được ở mà lại là những nơi bọn viên chức trong chính quyền thực dân Pháp chiếm cứ.


Hà Nội qua các triều đại, sự phát triển có khác nhau, nhưng đến năm 1946 thì có diện tích khoảng 152 cây số vuông bao gồm: 20 chợ, 4 bến sông, 4 bến ô tô, 3 ga xe lửa, 18 đường phố, 4 dốc và 24 đại lộ, 249 phố, 55 ngõ với trên 39 vạn người. Trong đó có trên một vạn năm ngàn đồng bào theo đạo Thiên chúa và một số đồng bào theo đạo Cao đài, Tin lành. Ở Hà Nội lúc này, ngoài nhân dân ta, còn có trên một vạn Hoa kiều và hàng trăm ngoại kiều An, Pháp, Anh, Nhật v.v... cư trú.


Từ xưa, Hà Nội đã có nhiều danh lam thắng cảnh và đã là đầu mối sản xuất và lưu thống hàng hóa của bốn phương, Hà Nội ngày càng thịnh vượng, dán số ngày càng đông đúc, phố phường ngày càng phát triển.

Từ Thăng Long đến Hà Nội, Thủ đô của ta có gần một ngàn năm lịch sử. Đó là một niềm tự hào của dân tộc ta, một dân tộc anh hùng, có truyền thống đấu tranh bất khuất, đã từng lấy ít thắng nhiều, lấy yếu thắng mạnh.

Trở lại trang sử cũ: Năm 1257, sau trận Đông Bộ Đầu1 (Nay thuộc huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông), cửa ngõ phía nam của kinh thành Thăng Long, quân ta đã đánh cho quân Nguyên tan tác phải bỏ chạy về Vân Nam. Năm 1285, sát kinh thành, trong trận Chương Dương lừng lẫy, 50 vạn quân Nguyên đại bại, quân dân ta chiếm lại Thăng Long. Lần thứ ba, năm 1287, Trần Quốc Tuấn tiêu diệt hoàn toàn thủy quân cửa giặc ở sông Bạch Đằng. Chủ tướng quân Nguyên là Thoát Hoan hồn bay phách lạc, phải rời bỏ Thăng Long đem quân bộ tháo chạy. Tuy nhiều lần thất bại, nhưng bọn phong kiến phương bắc vẫn không chịu từ bỏ dã tâm xâm lược của chúng. Năm 1406, nhà Minh lại đem quân giày xéo đất nước ta. Cha con Hồ Quý Ly không được nhân dân và các tầng lớp xã hội tiến bộ lúc ấy ủng hộ nên có chống cự song thất bại. Không chịu khuất phục dưới ách thống trị hà khắc của quân Minh, năm 1418, Lê Lợi, tiêu biểu cho lực lượng xã hội tiến bộ đương thời, khởi nghĩa ở đất Lam Sơn. Năm 1426, sau chín năm kháng chiến gian khổ, quân ta đã chiếm lại hầu khắp đất đai cả nước và tiến tới vây hãm quân Minh tại kinh thành Thăng Long. Cuộc chiến đấu bao vây quân địch ở Thủ đô diễn ra suốt một năm trời. Vòng vây của quân dân ta ngày càng siết chặt. Trong lúc vây hãm địch, quân dân ta đã tổ chức nhiều đợt tấn công vào thành và đã ba lần đánh tan viện binh của giặc từ Trung Quốc kéo sang. Quân Minh càng đánh càng thua, cuối cùng chúng phải xin giảng hòa và rút về nước. Mùa xuân năm 1428, vừa tròn 10 năm kiên trì chống giặc, dân tộc ta đại thắng, kinh đô Thăng Long yêu quý lại được giải phóng.


Hơn 300 năm sau, Thăng Long lại ghi vào sử sách những chiến công vô cùng oanh liệt. Năm 1788, nhà Thanh đã cho Tôn Sĩ Nghị đem 20 vạn quân sang xâm lược nước ta và đánh chiếm Thăng Long. Nhân dân cả nước ta vùng dậy chống giặc. Sau một năm anh dũng kháng chiến, quân ta đã tiến về giải phóng Thăng Long. Sáng ngày 5 tháng giêng âm lịch năm 1789, sau khi quân ta diệt các đồn Hạ Hồi và Ngọc Hồi, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đốc quân đánh vào kinh thành. Tại đồn Loa Sơn (gò Đống Đa), xác giặc chất cao như núi, 20 vạn quân Thanh tan vỡ, xéo lên nhau mà chạy. Trưa mồng 5, Nguyễn Huệ kéo đại quân vào thành Thăng Long, ăn mừng thắng trận.


Chiến công hiển hách ấy, chấm dứt nạn xâm lược của phong kiến Trung Quốc đồng thời cũng thủ tiêu tận gốc nạn tương tàn giữa các tập đoàn phong kiến Lê - Trịnh - Nguyễn đã diễn ra trong mấy năm, mở đường cho cuộc khôi phục nền thống nhất nước nhà ở đầu thế kỷ XIX.

Gần 100 năm sau khi thoát khỏi ách chiếm đóng của nhà Thanh, ngày 20 tháng 11 năm 1873, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Hà Nội lần thứ nhất. Mặc dầu nhà nước phong kiến chống cự yếu ớt, nhưng cả Hà Nội vẫn vùng lên chống giặc.

Ngày 20 tháng 4 năm 1882, thực dân Pháp đánh chiếm Hà Nội lần thứ hai. Ngay từ phút đầu, người dân Hà Nội đã tự tay châm lửa đốt nhà mình, hàng dãy phố lửa bốc ngùn ngụt cản bước tiến của giặc. Hàng ngàn người tự vũ trang bằng giáo mác, gậy gộc kéo đến trước đình Quảng Văn (Cửa Nam bây giờ) xin đi đánh giặc. Mặt khác khắp nơi đều nhất loạt đánh chiêng, khua trống, gõ mõ, hò reo để hư trương thanh thế và hỗ trợ cho tinh thần chiến đấu của quan quân trong thành. Tướng sĩ của Hoàng Diệu xông lên mặt thành chém đầu quân giặc đến phút cuối cùng.


Nhưng, căm giận thay! Triều đình nhà Nguyễn Gia Long đã phản bội dân tộc, quỳ gối đầu hàng, dâng Tổ quốc ta cho giặc. Hà Nội nung nấu hận thù. Sau đó, các phong trào yêu nước, các tổ chức chống thực dân Pháp thống trị liên tiếp nổi lên. Đông Kinh Nghĩa Thục, nhóm sĩ phu yêu nước tiến bộ xuất hiện khoảng tháng 3 năm 1907. Năm 1908, vụ Hà thành đầu độc của binh sĩ Việt Nam làm nội ứng phối hợp với nghĩa quân Đề Thám đã làm cho thực dân Pháp giật mình hoảng sợ. Tiếp đó, Nguyễn Văn Túy - một công nhân nhà máy xe lửa Gia Lâm - và một chiến sĩ Việt Nam Quang Phục hội ném bom khách sạn "Gà vàng" (Coq d’or) ở phố Tràng Tiền ngày 26 tháng 4 năm 1913 giết hai tên trung tá Pháp Mônggơrãng (Montgrand), Sapuy (Chapuis) và một số lính Pháp. Hành động đó đã gây chấn động trong toàn quốc.

Logged

vnmilitaryhistory

Moderator
*
Bài viết: 2335


Hà Nội 60 ngày khói lửa« Trả lời #3 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2021, 08:55:52 am »
Tư bản Pháp đặt chân tới Hà Nội. Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời và bắt đầu bổ nhát cuốc đầu tiên đào mồ chôn giai cấp bóc lột và bọn đế quốc xâm lược. Các cuộc đấu tranh từ thấp đến cao của công nhân liên tiếp nổ ra. Năm 1919, đã có bãi công đòi đuổi một tên giám đốc người Pháp. Đặc biệt thời kỳ này, Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội - tiền thân chủ yếu của Đảng Cộng sản Đông Dương - xuất hiện và nãm 1926, đặt trụ sở bí mật của Kỳ bộ Bắc kỳ tại Hà Nội. Từ đó phong trào bãi công ngày càng lan rộng. Ngày 9 tháng 5 năm 1927 ở Hà Nội, đã nổ ra mấy cuộc biểu tình của một vạn rưỡi lao động, học sinh và những người buôn bán nhỏ... phản đối tờ "Dân báo" thóa mạ các chiến sĩ cách mạng Việt Nam. Phong trào đấu tranh của quần chúng phát triển. Tổ chức lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam được củng cố. Đến nay, nhìn lại dĩ vãng, giai cấp công nhân và nhân dân Thủ đô lấy làm tự hào về những sự kiện lịch sử còn lưu truyền: tháng 3 năm 1929, tại số nhà 5D phố Hàm Long, chi bộ cộng sản đầu tiên của Đông Dương được thành lập và sau đó Đảng Cộng sản Đông Dương1 (Thời kỳ này, 3 tổ chức cộng sản ở Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ chưa hợp nhất) ra đời trong một cuộc hội nghị vào cuối tháng 5 đầu tháng 6 ở phố Khâm Thiên. Từ đó, phong trào đấu tranh lại nổ ra liên tục với mục đích và tính chất rõ rệt hơn hẳn các năm về trước, ở Hà Nội, bọn thực dân Pháp dăng ra cả một màng lưới nhà tù, cảnh sát, mật thám, v.v... tưởng như không ai có thể lọt được qua mắt chúng. Vậy mà đồng chí Trần Phú, Tổng bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương đã viết bản luận cương chính trị nổi tiếng ở ngay trong căn nhà của một tên công chức cao cấp Pháp - số 90 Hàng Bông Thợ Nhuộm. Người bồi của tên Pháp nhận đồng chí là người nhà. Sự việc ấy nói lên rằng dù trong hoàn cảnh nào, người chiến sĩ cách mạng cũng luôn luôn được sự ủng hộ của quần chúng cần lao.


Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời. Bọn thực dân Pháp thẳng tay đàn áp nhân dân ta. Hà Nội những ngày này tràn ngập không khí khủng bố, nhưng các chiến sĩ cộng sản vẫn một lòng một dạ trung thành với sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân, của dân tộc. Năm 1936, Chính phủ mặt trận bình dân Pháp lên cầm quyền; lợi dụng thuận lợi khách quan đó, phong trào cách mạng ở Hà Nội được đẩy mạnh. Nhóm cộng sản công khai ra tờ báo "Lao động" (Le travail) viết bằng chữ Pháp. Hàng loạt tổ chức cơ sở của Đảng, tổ chức quần chúng được thành lập trong hàng ngũ công nhân. Đốm lửa đấu tranh ngày càng lan rộng. Uy tín của Đảng ngày càng cao. Đế quốc Pháp thống trị và bóc lột nhân dân và giai cấp vô sản Việt Nam thì giai cấp vô sản Việt Nam và giai cấp vô sản Pháp càng siết chặt hàng ngũ vững bước đấu tranh. Nhân dân Pháp nhiệt tình ủng hộ nhân dân Việt Nam.


Ngày mồng 1 tháng 5 năm 1938, trên 2 vạn người thuộc đủ các tầng lớp nhân dân Hà Nội tham dự cuộc mít tinh kỷ niệm ngày Quốc tế lao động, hô vang khẩu hiệu đấu tranh cho tự do dân chủ.

Những năm sau, mặc gông cùm, máy chém, mặc lưỡi lê, họng súng dã man của kẻ thù, phong trào cách mạng ờ Hà Nội không hề lùi bước. Lòng dân Hà Nội hận thù càng chứa chất, khí thế đấu tranh càng sôi sục. Tấm gương hy sinh cao cả với khí phách anh hùng của đồng chí Hoàng Văn Thụ, Tổng bí thư của Đảng, mãi mãi còn sáng chói. Tại Bạch Mai, trước giờ bị xử bắn, đồng chí đã lớn tiếng tố cáo và lên án giai cấp thống trị và bọn đế quốc thực dân xâm lược, đồng chí vẫn vững lòng tin: Cách mạng của giai cấp vô sản nhất định thành công, dân tộc Việt Nam nhất định thắng!


Sang thời kỳ tiền khởi nghĩa, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Đảng, phong trào cách mạng ở Hà Nội cuồn cuộn dâng lên như bão biển. Thời cơ đã đến! Cả dân tộc vùng lên! Cả Hà Nội quật khởi! Các cuộc mít tinh tuần hành thị uy liên tiếp nổ ra, bừng bừng khí thế khởi nghĩa.


Bão táp cách mạng nối lên như trời long đất lở. Sáng sớm ngày 19 tháng Tám năm 1945, cùng với lực lượng vũ trang cách mạng, hơn 20 vạn nhân dân Hà Nội vùng lên khởi nghĩa đập tan chính quyền bù nhìn. Chính quyền cách mạng ra đời. Bầu trời thủ đô Hà Nội rực sáng. Ngàn vạn cờ đỏ sao vàng tung bay, Hà Nội giải phóng! Giai cấp vô sản đã mở ra cho Hà Nội một trang sử mới, một trang sử mà nhân dân lao động nắm chính quyền.


Nhớ lại những chiến công hiển hách, những sự tích anh hùng của thủ đô Việt Nam, ta sẽ thấy trong "60 ngày khói lửa" mùa Đông năm 1946, nhân dân Hà Nội đã tỏ ra xứng đáng với truyền thống kiên cường, bất khuất của cha ông.

Logged

vnmilitaryhistory

Moderator
*
Bài viết: 2335


Hà Nội 60 ngày khói lửa« Trả lời #4 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2021, 08:58:08 am »
TRƯỚC NGÀY KHỞI CHIẾN

Năm 1945, Đồng minh thắng phát xít Đức - Ý - Nhật. Chiến tranh thế giói lần thứ hai kết thúc, ở Việt Nam, Cách mạng tháng Tám thành công. Theo hiệp ước của Đồng minh, quân đội Tưởng Giới Thạch vào giải giáp quân đội phát xít Nhật ở Đông Dương, từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc; quân đội Anh giải giáp quân đội phát xít Nhật từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam. Nhưng sự thật không phải chỉ có như thế. Con cú vọ bị đánh đuổi bay xa, nhưng vẫn quay cổ lại tiếc miếng mồi béo bở. Quân Pháp theo sau quân Anh trở lại Nam Bộ với mục đích lập lại nền đô hộ cũ. Được quân Anh dung túng, giúp sức, quân Pháp khiêu khích và tiến đánh Sài Gòn vào ngày 23 tháng 9 năm 1945.


Nhưng giặc Pháp đã lầm. Sài Gòn không bao giờ khoanh tay khuất phục. Cả Nam Bộ đứng lên kháng chiến. Nhân dân cả nước chi viện cho Nam Bộ, quyết không bao giờ để cho thực dân Pháp chiếm miền Nam ruột thịt của mình.

Ngày 19 tháng 11 năm 1945, quân Pháp đổ bộ vào Nha Trang. Đầu tháng 5 năm 1946, chúng huy động 15.000 quân đánh chiếm Tây Nguyên và dùng miền này làm bàn đạp tiến đánh các miền khác ở Trung Bộ. Giặc Pháp sấn sổ như một tên cướp giật. Trong khoảng thời gian ngắn, chúng tung quân đi đánh chiếm các tỉnh Nam Bộ và Nam Trung Bộ...


Trước hành động xâm lược của giặc Pháp, ngày 25 tháng 11 năm 1945, Đảng Cộng sản Đông Dương ra chỉ thị kháng chiến, kiến quốc, vạch ra đường lối kháng chiến và chỉ rõ cần triệt để vận dụng chiến tranh du kích trên khắp miền Nam.

Ở Bắc Bộ, hai mươi vạn quân Tưởng Giới Thạch tiến vào, đem theo "một đàn chó sói" - bọn "cõng rắn cắn gà nhà" - Việt Nam Quốc dân đảng và Việt Nam Cách mạng Đồng minh của Vũ Hồng Khanh và Nguyễn Hải Thần với mưu đồ: Lật đổ chính quyền nhân dân, lập chính quyền bù nhìn tay sai đế quốc.


Trong lúc đó, 3.000 tàn binh Pháp đã bị Nhật đánh bại ngày 9 tháng 3 năm 1945, phải chạy trốn sang đất Trung Quốc, nay lại vượt biên giới tiến vào Lai Châu rồi tiến đánh Quỳnh Nhai, Tuần Giáo. Bọn Pháp từ Thượng Lào tiến qua Điện Biên Phủ, rồi dần dần lấn tới Sơn La, Hòa Bình.


Giữa lúc Tổ quốc lâm vào cảnh vô cùng hiểm nghèo, tình hình trở nên vô cùng phức tạp: nước ta sau gần một thế kỷ bị đế quốc Pháp thống trị, bị vơ vét tận xương tủy, chính quyền nhân dân mới thành lập, lực lượng vũ trang của ta mới tổ chức, quần chúng mới thoát khỏi gông cùm nô lệ, tuy bừng bừng khí thế đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, nhưng tổ chức đội ngũ chưa được củng cố thì thù trong giặc ngoài xúm lại định xâu xé nước ta. Nhưng Đảng và Hồ Chủ tịch đã khéo léo lái con thuyền Tổ quốc vượt qua cơn sóng gió. Hiệp định sơ bộ Việt - Pháp được ký kết ngày mồng 6 tháng 3 năm 1946. Ta hòa hoãn với Pháp để tranh thủ thời gian xây dựng đất nước, xây dựng lực lượng, đồng thời gạt 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch ra ngoài. Bọn "chó săn" bàng hoàng như bị sét đánh ngang đầu, một số trở về con đường chính nghĩa, một số cuốn gói chạy theo quân Tưởng, một số ngoan cố dần dần bị ta tiễu trừ, số còn lại quay ra bí mật bắt tay với giặc Pháp.


Nhưng, như mọi người đều biết, bọn đế quốc không dễ dàng nhả miếng mồi ngon.

Theo hiệp định sơ bộ, quân đội Pháp cùng với quân đội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa làm nhiệm vụ tiếp phòng thay cho quân Tưởng Giới Thạch rút về nước. Ngày 1 tháng 3 năm 1946, quân Pháp, do tướng Lơcléc (Leclerc) chỉ huy, xuất phát từ Nam Bộ đổ bộ lên Hải Phòng, gồm các đơn vị sư đoàn bộ binh thuộc địa thứ 9(9e DIC), sư đoàn thiết giáp thứ 2 (2e DB) và một lữ đoàn lính thủy đánh bộ, tổng cộng là 15.000 tên. Sớm ngày 6 tháng 3, chúng vào Hải Phòng... Đến ngày 18 tháng 3, Lơcléc tiến vào Hà Nội cùng với một số đơn vị của sư đoàn thiết giáp thứ 2 gồm khoảng 1.000 tên với 200 xe. Sau đó 4.000 quân Pháp bị Nhật giam trong thành được giải thoát1 (Tướng Giăng Mác-săng, Thảm kịch Đông-dương (Le drame indochinois), Nhà xuất bản J.Peyrounet. Pa-ri. 10-1953, tr.61, 62, 63. Về số 4.000 quân Pháp bị giam trong thành, trong cuốn Số phận Đông-dương (Le destin de rindochine) của Xa-bát-chi-ê cũng nói như vậy).


Bản chất ăn cướp, dù khoác áo cà sa, nói năng lịch sự đến thế nào chăng nữa thì sớm muộn vẫn lòi mặt ăn cướp. Hiệp định sơ bộ ký chưa ráo mực, thực dân Pháp đã tiến hành hàng loạt âm mưu lật đổ Chính phủ ta, định đánh úp Hà Nội để tiến tới thôn tính cả nước ta. Tờ báo "Đề huề" (L’Entente) của chúng xuất bản tại Hà Nội trắng trợn vu khống Chính phủ ta. Chúng liên tiếp tăng quân tới Hà Nội, nhưng vẫn già mồm chối cãi quanh co. Tại nước Pháp, báo "Giải phóng", báo "Du kích" và báo "Chiến đấu" cũng tố cáo hành động mập mờ, bí ổi ấy của bọn Pháp ở Việt Nam.


Trước ngày khởi chiến, ở Hà Nội, lực lượng của giặc Pháp lên tới khoảng 6.500 quân, đa số là lính lê dương, lính tinh nhuệ thiện chiến và 62 xe tăng, xe bọc sắt, 19 máy bay, 42 pháo, 5.000 súng trường, 600 liên thanh nhẹ, 180 liên thanh nặng1 (Phụ lục - Vị trí và lực lượng địch trước ngày khởi chiến (trang 208)). Chúng bố trí các cứ điểm, chẹn các cửa ngõ của thành phố, thành một vành đai bao vây Hà Nội, khống chế các vị trí chiến thuật. Giặc Pháp âm mưu dùng quân cơ động mạnh trong thành tấn công chia cắt Hà Nội ra từng mảng, bao vây tiêu diệt ta ở từng khu vực. Nơi nào có cơ quan đầu não, có nhà máy, hoặc bộ đội của ta thì chúng đưa nhiều lực lượng đến đóng kèm ngay bên cạnh, với lý do để bảo vệ an ninh(!), nhưng thực chất là để thực hiện âm mưu bất ngờ, nhanh chóng tiêu diệt quân đội và cơ quan Chính phủ ta. Ví dụ như giặc Pháp đưa 200 quân tới chiếm đóng khách sạn Mêtơrôpôn cách Bắc Bộ phủ2 (Nay là Vụ Lễ tân, Bộ Ngoại giao) vài chục thước. Vì Bắc Bộ phủ là nơi làm việc của Hồ Chủ tịch và một số cơ quan Chính phủ ta. Ngoài ra chúng còn đưa quân tới chiếm đóng nhiều nơi khác như nhà ngân hàng, máy điện, máy nước, ga xe lửa, cầu Long Biên, v.v... cùng với âm mưu đen tối như vậy.


Rõ ràng kẻ cướp đã lộ mặt! Chúng đã đem vào Hà Nội một lực lượng quân sự lớn mạnh, chuẩn bị một màn cướp đoạt chớp nhoáng, với thái độ hung hăng, kẻ cả, chủ quan kiêu ngạo. Nhưng cũng từ đó, chúng bắt đầu chuẩn bị lao đầu vào một rừng lửa rực cháy ngất trời, để tự thiêu hủy mình một cách thảm hại.

Logged

vnmilitaryhistory

Moderator
*
Bài viết: 2335


Hà Nội 60 ngày khói lửa« Trả lời #5 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2021, 08:59:41 am »
Ngay sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Đảng ta đã chủ động chuẩn bị mọi mặt về chính trị, kinh tế và quốc phòng, để sẵn sàng đối phó một cuộc chiến tranh xâm lược mới do lòng tham vô đáy của bọn đế quốc quay lại hòng bóp chết chính quyền cách mạng non trẻ của chúng ta. Đảng và Chính phủ đã phát triển mau chóng các lực lượng vũ trang chủ lực và tự vệ, lập các kho dự trữ lương thực, các xưởng chế tạo vũ khí đạn dược theo phương pháp thủ công, đã kêu gọi nhân dân tự rèn đúc vũ khí thô sơ, sẵn sàng xông ra tiền tuyến bảo vệ Tổ quốc. Các lớp đào tạo cán bộ quân sự và chính trị liên tiếp được mở ra ở các địa phương và trung ương, cho tới tháng 12 năm 1946, ở Hà Nội, chúng ta đã xây dựng được một lực lượng vũ trang tập trung - Vệ Quốc Đoàn - có 5 tiểu đoàn gồm 2.515 người, 1.500 súng trường (trong đó có một nửa là súng khai hậu và súng bắn chim, một nửa gồm đủ các loại súng trường Nhật, Mỹ, Mútxcơtông, Anhđôsinoa...) Trung, đại liên có 4 khẩu, bom ba càng1 (Là loại bom do công binh xưởng Việt Nam chế tạo, có cán dài khoảng 3 mét, dùng sức người lao vào xe tăng, xe bọc sắt của địch. Bom nổ, xe cơ giới của địch bị phá hủy) 80 quả, lựu đạn 1.000 quả, đạn các loại 2 vạn viên, badôca 1 khẩu, étxăng crếp 200 chai, 7 khẩu pháo cao xạ 75 ly cũ của Pháp ta đem dùng làm pháo mặt đất để bắn gián tiếp và một sơn pháo 75 ly, 1 pháo 25 ly đặt ở các pháo đài Láng, Xuân Tảo, Xuân Canh, Ba Đê, Thủ Khối. Ngoài số súng nói trên, phần lớn các đơn vị bộ đội chủ lực đều trang bị bằng dao găm, mã tấu, giáo, mác, kiếm và các loại vũ khí cũ. Nếu tính trung bình thì 2 người mới có 1 khẩu súng trường, mỗi chiến sĩ có được 8 viên đạn, 5 chiến sĩ mới có 2 quả lựu đạn, 600 người mới có 1 khẩu súng máy. Lúc ấy, lực lượng chính quy chỉ khác các lực lượng dân quân tự vệ là sống tập trung, còn các mặt trang bị, học tập, chế độ, v.v.. thì mỗi đơn vị một vẻ. Ngay cả đến việc ăn, mặc cũng mỗi người, mỗi đơn vị tùy khả năng của mình, của địa phương mà cải tiến. Các chiến sĩ đều là những thanh niên mới nhập ngũ được một vài tháng, mới học tập được một số động tác chiến đấu lăn, lê, bò, bắn súng, ném lựu đạn... đã phải phân tán nơi 5 người, nơi 1 tiếu đội, 1 trung đội để canh gác bảo vệ cơ quan, công xưởng, nhà máy1 (Phụ lục - Vị trí và lực lượng của ta trước ngày giặc Pháp khởi chiến). Cấp chỉ huy trừ một vài đồng chí hoạt động cách mạng từ thời kỳ bí mật có học tại trường Hoàng Phố hoặc Liễu Châu ở Trung Quốc và một số là cựu binh sĩ tiến bộ, còn phần lớn là những thanh niên và hội viên cứu quốc mới chỉ được huấn luyện cấp tốc từ 15 đến 30 ngày. Hồi đó, theo chủ trương của trên, đồng chí Trần Độ có mở lớp huấn luyện ngắn ngày cho các chính trị viên đại đội, trung đội Vệ Quốc Đoàn lấy tên là trường Bắc Sơn, chương trình huấn luyện gồm tài liệu "Công tác chính trị trong bộ đội" và cuốn sách "Chính trị giáo đạo viên" dịch của Trung Quốc do đồng chí Võ Nguyên Giáp đưa cho. Nhưng cũng có nhiều đồng chí không được qua lớp huấn luyện nào.


Ngoài lực lượng Vệ Quốc Đoàn kể trên, ở Hà Nội còn có 8 trung đội "công an xung phong" do Mặt trận Việt Minh tổ chức lãnh đạo và có khoảng 6.000 thanh niên yêu nước xung phong gia nhập tự vệ chiến đấu. Dần dần tới trước ngày nổ súng, lực lượng tự vệ ở Hà Nội có tới 8.500 người. Các chiến sĩ tự vệ chủ yếu lấy tinh thần yêu nước, lòng dũng cảm và mưu mẹo, sử dụng phương tiện, vũ khí thô sơ sẵn có hoặc do mình tạo ra để đánh lại xe tăng, pháo binh và máy bay chiến đấu của giặc. Cán bộ chỉ huy do anh em bầu ra, có một số được học quân sự hoặc chính trị từ 2 đến 3 ngày, còn hầu hết không học qua trường, lớp nào.


Xem như vậy thì về mặt quân số và trang bị, rõ ràng bộ đội tập trung của ta lúc ấy còn rất yếu. Nếu so sánh với giặc Pháp thì binh lực của chúng hơn ta 3 lần. Vũ khí bộ binh của chúng không những tối tân hơn, tốt hơn, mà còn nhiều hơn ta gấp 9 lần, pháo binh gấp 6 lần. Còn xe tăng và máy bay thì giặc Pháp hoàn toàn chiếm ưu thế tuyệt đối, ta chưa có gì. Về phương tiện vận chuyển cơ động, giặc Pháp có ô tô vận tải, canô, tàu thủy... Phía Việt Nam dựa vào đôi vai để gồng gánh, đeo, vác và đôi chân đi bộ. Giặc Pháp còn hơn ta về mặt kỹ thuật và tổ chức chỉ huy. Vì chúng là một quân đội nhà nghề chuyên đi xâm lược, có bộ máy chỉ đạo chiến tranh và cơ quan tham mưu giàu kinh nghiệm... Nếu theo đường lối quân sự tiến hành chiến tranh tự vệ bằng cách lấy chính quy chọi chính quy, lấy chủ lực chọi chủ lực, đánh giá quân đội ta chỉ ở mấy khẩu súng kíp, mấy con dao thì quả là dễ mất tin tưởng đi đến đầu hàng thỏa hiệp, hoặc ngược lại "dốc túi đánh một canh" đi đến khánh kiệt lực lượng. Và nếu làm như vậy thì cuộc chiến đấu tự vệ của chúng ta sẽ đi đến đâu? Thủ đô của chúng ta sẽ nằm trong tình trạng như thế nào?


Nhưng Đảng ta đã vận dụng tài tình tư tưởng quân sự Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của nước nhà, đã tin tưởng vào sức mạnh của quần chúng và đã động viên toàn dân vũ trang đứng lên kháng chiến lâu dài, đánh giặc trên mọi mặt, bằng mọi hình thức quyết giành thắng lợi cuối cùng.

Logged

vnmilitaryhistory

Moderator
*
Bài viết: 2335


Hà Nội 60 ngày khói lửa« Trả lời #6 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2021, 09:02:33 am »
GIẶC PHÁP TRỞ MẶT

Ngày nay, ai tin rằng bọn tư bản đế quốc đã thay đổi bản chất bóc lột và xâm lược thì không khác gì gà trống vì nghe lời đường mật của cáo già nên đã thiệt thân, cừu non tin lời nịnh hót của chó sói nên đã bị cắn xé.

Vừa đặt chân tới Hà Nội, giặc Pháp đã trở mặt xé bỏ hiệp định sơ bộ. Ngày 27 tháng 3 năm 1946, chúng đánh chiếm Nha Tài chính Việt Nam1 (Nay là trụ sở Bộ Ngoại giao), hạ cờ đỏ sao vàng xuống, kéo cờ tam tài lên. Thật là một hành động vô cùng láo xược! Nếu ta lùi bước này, kẻ thù sẽ tiến thêm bước nữa. Nhưng không, chúng ta không lùi bước. Suốt ngày 29 tháng 3, làn sóng công phẫn của nhân dân Hà Nội dâng lên cuồn cuộn, hàng chục vạn người đã xuống đường biểu tình phản đối hành động xâm lược của giặc Pháp. Trước sức đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân thủ đô, giặc Pháp đã phải hạ cờ tam tài và rút khỏi Nha Tài chính. Tuy nhiên chúng vẫn tiến hành những mưu đồ thâm độc, chúng vạch ra một chương trình hành động tháng 5 năm 1946 theo kiểu "ném đá giấu tay":

"- Ngày 6 tháng 5 năm 1946, lúc quân Tàu1 (Những chữ Tàu ở đây là chỉ quân đội Tưởng Giới Thạch) rút khỏi Việt Nam, sẽ ám sát một số lính Tàu quan trọng để gây ác cảm giữa Tàu và Việt Nam.

- Ngày 19 tháng 5 năm 1946, ra lệnh cho đàn bà, trẻ con, người già yếu (Pháp kiều) vào Sài Gòn để đến ngày 10 tháng 6 năm 1946, đợi khi Tàu rút sẽ uy hiếp Việt Nam. Tiếp tục tích trữ lương thực và phân phối vũ khí cho các địa điểm trong Hà Nội.

- Ngày 22 tháng 5 năm 1946, đợi khi Tàu rút lui sẽ can thiệp vào nội trị Việt Nam, giữ sự trị an.

- Phiên họp ngày 25 tháng 5 năm 1946, bàn về chủ trương đánh chiếm Trung, Bắc Bộ.

- Vì không thể chỉ chờ mong ở Pháp quốc tiếp tế cho quân đội Pháp ở đây, ngày 29 tháng 5 năm 1946 bàn đến vấn đề tự túc ở Đông Dương"2 (Tài liệu ta bắt được của giặc Pháp năm 1946).

Chương trình hành động của giặc Pháp như thế, nhưng chúng vẫn la lối ầm ĩ là "bị khiêu khích, bị tấn công"(!). Với Thủ đôạn "vừa ăn cướp vừa la làng" ấy, giặc Pháp cũng không thể lừa bịp được ai. Kẻ cướp vẫn hiện nguyên hình là kẻ cướp. Ngày 2 tháng 5 năm 1946, chúng bắt giam 15 công nhân trong thành, lập tức 2.000 anh chị em công nhân khác đã đấu tranh đình công kéo dài 2 tuần lễ. Ngày 18 tháng 5, giặc Pháp phải nhượng bộ, thả tất cả 15 người. Trong tháng 5 năm 1946, giặc Pháp đã phân phát đầy đủ vũ khí cho các kiều dân và công chức Pháp. Ngày 8 tháng 5 năm 1946, nhiều sĩ quan và binh lính Pháp mặc thường phục giả là kiều dân đến xem xét các vị trí quan trọng, bí mật bố trí thành ổ chiến đấu. "Ở khách sạn Xpơlăngdít (Splendide), khách sạn Mêtơrôpôn (Métropole) đều có bố trí súng trường, súng máy và rất đông quân. Khách sạn Côngtinăngtan (Continental, trước ga xe lửa), khách sạn Técminuýt đờ la ga (Terminus de la gare) mỗi nơi có 40 súng trường. Tiệm ăn Giêrăng (Gérand) phố Triệu Quang Phục (trước cửa trại Vệ Quốc Đoàn) và nhà Phái đoàn Anh (Mission Anglaise) đều có vũ khí đạn dược. Nhà Ănggiê (Anger) - 17 Trần Hưng Đạo - nhà số 9 phố Nguyễn Văn Trạch và nhà thờ Liễu Giai, mỗi nơi đều có từ 2 đến 4 súng máy loại nặng"1 (Tài liệu ta bắt được của Pháp năm 1946).


Song song với việc bí mật lập các ổ tác chiến ở các khu phố, hành động khiêu khích của giặc Pháp ngày càng trắng trợn. Chúng cho quân lấn sang chiếm đóng Phủ Toàn quyền cũ. Xe tăng, xe bọc sắt kéo đến trước cổng Bắc Bộ phủ, nơi Chính phủ ta làm việc, gầm gừ lồng lộn như một bầy thú dữ hòng đe dọa, uy hiếp ta. Tháng 6, chúng ra sức vận động, thúc ép thanh niên kiều dân Pháp vào quân đội thực dân Pháp và tiếp tục bí mật đưa quân đến ở rải rác trong các nhà bọn tay chân của chúng trong thành phố. Hành động lén lút ấy giấu sao nổi những người dân đang cảnh giác theo dõi kẻ thù và sẵn sàng chiến đấu, thà chết không chịu làm nô lệ. Nhưng toàn dân ta vẫn làm theo yêu cầu của Đảng và Bác Hồ, nén căm giận, tránh âm mưu khiêu khích của giặc, kiên trì tranh thủ điều kiện hòa binh để gấp rút xây dựng đất nước, xây dựng lực lượng. Đảng ta kịp thời đề ra những khẩu hiệu đấu tranh: "Quân đội Pháp không được khiêu khích để lấy cớ nhúng tay vào nội trị Việt Nam, quân đội Pháp phải tôn trọng nển độc lập của Việt Nam", "Phản đối chiến tranh xâm lược, binh lính Pháp hãy đòi hồi hương!", "Nhân dân Việt - Pháp đoàn kết đấu tranh chống thực dân phản động Pháp âm mưu chiếm Việt Nam".


Ngày 6 tháng 7, hội nghị Việt - Pháp họp ở Phôngtennơbơlô (Fontainebleau). Tại hội nghị này, trưởng phái đoàn nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là đồng chí Phạm Văn Đồng lên tiếng phản đối việc thành lập chính phủ Nam kỳ tự trị và việc Đácgiăngliơ1 (Cao ủy Pháp ờ Đông Dương) thừa nhận chính phủ ấy. Trong khi đó ở Hà Nội, quân đội thực dân Pháp chuẩn bị đánh úp Chính phủ ta vào ngày 14 tháng 7. Đó là một kế hoạch xâm lược dưới hình thức một trò hề đảo chính do bọn thực dân Pháp chủ mưu và được bọn phản động tay sai giúp sức thực hiện. Kế hoạch ấy rất dã man, không những vì âm mưu đen tối xâm lược nước ta mà còn biểu hiện sự phân biệt chủng tộc một cách độc ác: Quân Pháp sẽ tổ chức lễ kỷ niệm cách mạng tư sản dân quyền Pháp ở Hà Nội một cách rầm rộ. Chúng sẽ diễu binh trên khắp các đường phố, chủ yếu ở khu vực tập trung các cơ quan của Đảng và Chính phủ ta. Các lực lượng vũ trang của Pháp sẵn sàng chiến đấu, nhân cơ hội đó sẽ hành động. Bọn Đại Việt2 (Đảng phái phản động làm tay sai cho giặc Pháp) đã chuyển mìn và lựu đạn bố trí sẵn ở một số nơi trong thành phố. Khi quân Pháp diễu qua, một số tên Đại Việt sẽ ném lựu đạn và bắn súng vào các đoàn diễu binh, nhưng chỉ được bắn vào các toán gồm lính Marốc và Xênêgan, tuyệt đối không được bắn vào lính Pháp. Bọn Pháp nhân việc ấy mà đổ vấy cho ta cố tình đánh chúng và lập tức tiến quân bao vây các cơ quan Chính phủ ta, bắt các lãnh đạo và nhân viên Chính phủ, đồng thời bọn Đại Việt tuyên bố đảo chính, lập chính phủ bù nhìn, v.v...


Nhưng "vỏ quýt dày có móng tay nhọn". Giặc Pháp không ngờ sự việc diễn ra đã hoàn toàn ngược lại. Ngày 12 tháng 7, nhân dân và công an Hà Nội đã khám phá và tóm cổ những tên đầu sỏ phản động trong các vụ Ôn Như Hầu1 (Phụ lục - Vụ Ôn Như Hầu... (trang 217)), khu vực đường Quán Thánh, Châu Long. Tất cả những truyền đơn, báo cáo, yết thị và kế hoạch lật đổ của bọn phản động Quốc dân đảng2 (Lúc này bọn Đại Việt và Quốc dân đảng đã hợp nhất và lấy tên Quốc dân đảng. Chi tiết xem phụ lục, Vụ Ôn Như Hầu...) làm tay sai cho giặc Pháp đều bị phơi trần. Cả "thầy" lẫn "tớ" hết đường chối cãi. Ngày 14 tháng 7, không thấy mặt Xanhtơni bén mảng đến khẩn khoản để nghị với Chính phủ ta xin "diễu binh khắp thành phố Hà Nội" như mấy hôm trước nữa. Âm mưu đó đã bị thất bại nhưng quân Pháp vẫn xúc tiến âm mưu đen tối khác: tiếp tục bãi bỏ lệnh thuyên chuyển quân đội ở Bắc Bộ và Nam Bộ, tiếp tục tăng quân và vũ khí đưa từ Nam Bộ ra Bắc. Ngoài ra chúng còn tạm (?) bãi bỏ việc cho hồi hương binh lính hết hạn tại ngũ, còn tiếp tục tuyển thổ phỉ, tuyển tay sai. "Vụ Tham Hoan" là một chứng cớ. Tên Tham Hoan là một công chức cao cấp ngành bưu điện trong thời kỳ Pháp còn đô hộ nước ta. Hắn là tư sản, bố vợ là tổng đốc, Tham Hoan chuyên nghề tuyển người làm nội ứng cho giặc Pháp. Chính Xanhtơni trực tiếp giao nhiệm vụ cho hắn: "Ai muốn theo Pháp thì chi cần ký tên vào một bản danh sách là sẽ được Pháp cấp ngay 500 đồng và một tạ gạo". Khi bắt Tham Hoan, ta bắt được cả bản danh sách ấy giấu trong người hắn.


Lợi dụng chính quyền ta mới thành lập chưa được một năm, mọi tổ chức của ta chưa kịp củng cố vững chắc, chúng đã ráo riết chuẩn bị một cuộc tấn công chớp nhoáng, tiếp tục khiêu khích, lấn dần. Bốn giờ chiều ngày 29 tháng 8 năm 1946, chúng chiếm Nha Thuế quan của ta. Xe nhà binh Pháp mở hết tốc lực chạy khắp thành phố, cán người, bắt cóc, bắn bừa bãi vào nhân dân đi qua đường phố.


Để làm dịu bớt không khí căng thẳng và tranh thủ thời gian xây dựng đất nước, xây dựng lực lượng quốc phòng, sẵn sàng đối phó với việc đế quốc Pháp bất ngờ trở mặt tấn công xâm lược nước ta một lần nữa, ngày 14 tháng 9 năm 1946, Hồ Chủ tịch ký với Mutê (Marius Moutet), bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp, một tạm ước. Nhưng tạm ước vừa ký xong, giặc Pháp lại xúc tiến những âm mưu mới. "Ngày 29 tháng 9 năm 1946, một phái đoàn kinh tế Pháp do Lôrăng (Laurent) làm trưởng đoàn đã sang Singapore điều đình với nhà đương cục Anh, ký một bản hiệp ước cùng nhau chia sẻ quyền lợi kinh tế ở Á Đông và thỏa thuận để một đại biểu Anh được dự vào phần kiểm soát tài chính các ngân hàng Việt Nam. Viên đại biểu Anh đó là Tơribo Uynsơn (Tribor Wilson)"1 (Tài liệu lưu trữ cơ quan Bộ Tổng tham mưu). Bọn thực dân Pháp lại ký kết với bọn Tưởng Giới Thạch một hiệp ước thương mại nhằm bóp nghẹt kinh tế của ta, che chở cho bọn Tưởng Giới Thạch tự do xuất, nhập khẩu những hàng hóa mà Chính phủ ta ngăn cấm, giúp đỡ bọn đặc vụ, thổ phỉ hoạt động phá hoại. Giặc Pháp còn "thành lập một uỷ ban kiểm soát hàng hóa xuất nhập cảng ở Việt Nam. Ủy ban này bắt đầu làm việc ngày 15 tháng 10 năm 1946... và thành lập cơ quan thương chính song hành với Nha Thuế quan Việt Nam"1 (Thông tư của Bộ Kinh tế Pháp ngày 14 tháng 10 năm 1946). Chúng đòi những hàng hóa của ta phải có giấy phép của Pháp cấp mới được vận chuyển trên miền duyên hải. Ta muốn thông thương với nước ngoài phải cho Pháp kiểm soát, phải đưa sổ cho Pháp ký thuận mới được đi. Thật là những hành động hoàn toàn vô lý của những tên cướp biển. Ở các nơi khác, giặc Pháp ráo riết mở rộng phạm vi chiếm đóng hòng cô lập Hà Nội. Tại Sơn La suốt bốn ngày, từ ngày 3 đến ngày 6 tháng 11, hai máy bay khu trục của giặc Pháp mỗi ngày hai lần bắn phá vào nhân dân và các làng mạc, quân Pháp ở Mường Krieng tấn công xuống bản Mong. Tại Hòn Gai, ngày 8 tháng 11, giặc Pháp đổ bộ vào làng Tài Xá gần vùng Cẩm Phả bến. Ở Hải Ninh, giặc Pháp cho máy bay bắn xuống những vùng đồng bào ta đang gặt, đồng thời chúng đưa bọn thổ phỉ đi cướp phá 270 mẫu lúa của nhân dân.


Tình hình ấy buộc chúng ta phải hết sức cảnh giác chuẩn bị đề phòng, sẵn sàng đối phó với mọi tình thế mà giặc Pháp có thể gây ra.

Hà Nội nằm trong tình trạng bị thúc ép, đe dọa và uy hiếp nghiêm trọng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn