
| Hà Nội 60 ngày khói lửa« vào lúc: 17 Tháng Mười, 2021, 01:12:38 pm » | - Tên sách: Hà Nội 60 ngày khói lửa - Tác giả: Vương Thừa Vũ - Nhà xuất bản: Hà Nội - Năm xuất bản: 2006 - Người số hóa: giangtvx, vnmilitaryhistory
Tham gia biên tập trong lần tái bản
ĐẠI TÁ: TẠ DUY ĐỨC - CCB Trung đoàn thủ đô
ĐẠI TÁ HOÀNG KIM HIÊN - CCB Trung đoàn thủ đô
PHÒNG LỊCH SỬ ĐẢNG - Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội
CÙNG BẠN ĐỌC THÂN MẾN!
Cuốn sách này được Nhà xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản lần đầu năm 1964, nay được Nhà xuất bản Hà Nội tái bản theo chủ trương của Thành uỷ và đáp ứng nguyện vọng của các cựu chiến binh Hà Nội và Sư đoàn 308 Anh hùng. Cuốn sách ra mắt bạn đọc đúng vào dịp kỷ niệm lần thứ 60 ngày toàn quốc kháng chiến chống Pháp (19-12-1946).
Cuốn sách do Trung tướng Vương Thừa Vũ, nguyên chỉ huy trưởng mặt trận Hà Nội mùa đông năm 1946, viết về một sự kiện lịch sử trọng đại và oai hùng của Thủ đô Hà Nội góp phần tô thắm truyền thống dựng nước và giữ nước vẻ vang của dân tộc Việt Nam mà mỗi chúng ta đều có quyền tự hào, có trách nhiệm giữ gìn và phát triển.
Cuốn sách này là một bản tường trình chân thực, đầy đủ, cặn kẽ của một nhân chứng lịch sử quan trọng và giúp chúng ta hiểu rõ:
60 năm trước đây dưới sự lãnh đạo kiên quyết và tài tình của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, vào 20 giờ 03 phút ngày 19 tháng 12 năm 1946, quân và dân thủ đô Hà Nội đã nhất tề đứng lên nổ súng mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xám lược.
Cuộc chiến đấu kiên cường của quân dân Hà Nội mùa Đông năm 1946 nhằm bảo vệ nền độc lập tự do của Tổ quốc, ngay từ đầu đã thu hút đông đảo nhân dân toàn Thành phố tham gia với đủ các thành phần xã hội tiêu biểu: công nhân, thợ thủ công, tiểu thương, tiểu chủ, học sinh, sinh viên, kỹ sư, bác sĩ, các nhạc sĩ, nhà văn, nhà thơ, nông dân, dân nghèo... Lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần "Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ" đã thúc đẩy quân dân Hà Nội kết thành sức mạnh vô cùng to lớn vượt qua mọi thử thách hiểm nguy, tạo nên "yếu tố quyết định hàng đầu trong trận tổng giao chiến đầu tiên" giữa những vệ quốc quân, tự vệ, những người Hà Nội trong tay chỉ có bom ba càng, súng khai hậu, lựu đạn, chai xăng cơ-rếp... với đội quân viễn chinh nhà nghề của thực dân Pháp được trang bị vũ khí tối tân và các phương tiện chiến tranh hiện đại.
Cuộc chiến đấu hào hùng của quân dân Hà Nội mùa Đông năm 1946 là biểu hiện tập trung, là bức tranh hoành tráng của cuộc chiến tranh nhân dân theo đường lối, tư tưởng quân sự đúng đắn, ưu việt của Đảng và Hồ Chủ tịch. Nêu cao ý chí chiến đấu "sống chết với Thủ đô", "quyết tử để Tổ quốc quyết sinh", quân dân Hà Nội đã phát huy cao độ nghệ thuật quân sự của cha ông "lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều", sử dụng mọi vũ khí có trong tay, đặc biệt chiến thuật "trùng độc chiến" kết hợp trong đánh - ngoài vây; trong - ngoài cùng đánh ở Liên khu I (nay là quận Hoàn Kiếm) và các Liên khu II, III, cùng các vành đai ngoại thành; phối hợp chặt chẽ giữa bộ đội Vệ Quốc Đoàn với dân quân tự vệ, giữa tác chiến tập trung với lối đánh du kích phân tán nhỏ lẻ, ra sức tiêu hao tiêu diệt sinh lực địch. Bằng gần 200 trận chiến đấu quyết liệt diễn ra trong suốt 60 ngày đêm, quân dân thủ đô đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao phó: làm thất bại kế hoạch "đánh nhanh, thắng nhanh" của thực dân Pháp, tiêu diệt nhiều sinh lực địch và kìm chân chúng trong 2 tháng trời, gấp đôi thời gian quy định, tạo điều kiện cho cả nước triển khai thế trận chiến lược trường kỳ kháng chiến của Đảng ta.
Trận chiến 60 ngày đêm của quân dân Hà Nội mùa Đông năm 1946 đã gây cho quân địch thất bại nặng nề, đồng thời thực hiện xuất sắc chủ trương bảo toàn lực lượng ta để kháng chiến lâu dài. Đã có những đơn vị chủ lực của ta được sinh ra trong lửa đạn mà điển hình là trung đoàn Thủ đô anh hùng. Ra đời ngày 6 tháng 01 năm 1947 từ cuộc chiến đấu bám trụ kiên cường giữa vòng vây bốn bề của địch ở Liên khu I - khu vực 36 phố phường cổ kính, trung đoàn Thủ đô đã lập nên nhiều chiến tích kỳ diệu. Tết Đinh Hợi, trung đoàn được Bác Hồ gửi thư khen tặng: "Các em là đội cảm tử. Các em quyết tử để Tổ quốc quyết sinh". Sau hai tháng chiến đấu oanh liệt, được lệnh của Bộ chỉ huy mặt trận, trung đoàn Thủ đô đã thực hiện cuộc rút quân "thần kỳ" an toàn ra khỏi Hà Nội để đi tiếp cuộc trường chinh giải phóng dân tộc với một lời thề "Thủ đô sẽ chiến thắng quân thù". Và lời thề thiêng liêng đó đã trở thành hiện thực vào cái ngày "trùng trùng quân đi như sóng" giữa bầu trời thu lồng lộng nắng vàng rực rỡ tháng 10 năm 1954, khi "năm cửa ô đón mừng" trung đoàn Thủ đô trong đội hình Đại đoàn chủ lực 308 Quân Tiên Phong tiến về giải phóng Hà Nội mến yêu.
Trận chiến oai hùng 60 ngày đêm của Thủ đô Hà Nội mở đầu kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp lủ một trong những trang sử chói lọi chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong thời đại mới, thời đại Hồ Chí Minh.
60 năm đã đi qua. Hà Nội ngày nay đã trở thành Thủ đô anh hùng của nước Việt Nam độc lập và thống nhất đang xây dựng cuộc sống văn minh hạnh phúc. Với niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam quang vinh, vào sức mạnh vô địch của đại đoàn kết dân tộc, quân và dân Hà Nội nhất tâm kế tục, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, vận dụng những bài học quý báu của cuộc chiến đấu oanh liệt 60 ngày đêm, mùa Đông năm 1946 vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, xây dựng thủ đô xã hội chủ nghĩa yêu quý giàu mạnh, hiện đại, văn minh, xứng đáng với lòng ngưỡng mộ của đồng bào cả nước và bạn bè trên toàn thế giới.
Giờ đây, khi cuốn sách này (tái bản lần thứ 2) đến với bạn đọc thì tác giả của nó - Trung tướng Vương Thừa Vũ, một người con ưu tú của Hà Nội, đã vĩnh viễn đi xa. Để tưởng niệm và tri ân tác giả, chúng tôi trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc gần xa.
Mùa Đông năm 2006 BAN TUYÊN GIÁO THÀNH ỦY HÀ NỘI BAN LIÊN LẠC CỰU CHIẾN BINH TRUNG ĐOÀN THỦ ĐÔ ANH HÙNG | |
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory Moderator  Bài viết: 2636  | 
| Hà Nội 60 ngày khói lửa« Trả lời #1 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2021, 01:13:20 pm » | Lời nói đầu
Cuộc chiến đấu của nhân dân ta chống bọn thực dân xâm lược Pháp ở thủ đô Hà Nội trong suốt hai tháng trời vào thời kỳ đầu toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp là cuộc chiến đấu quyết liệt giữa hai lực lượng quá chênh lệch nhau về trang bị vũ khí và phương tiện chiến tranh, giữa một đội quân xâm lược thiện chiến và một dân tộc bị áp bức vừa mới trỗi dậy. Pháp là một nước tư bản vốn đã phát triển từ lâu, có một nền kinh tế công nghiệp hiện đại, lại là một đế quốc chiếm nhiều thuộc địa trên thế giới, nên có một đạo quân viễn chinh nhà nghề, trang bị đầy đủ vũ khí tối tân và phương tiện hiện đại, có bộ tham mưu giàu kinh nghiệm trong chiến tranh xâm lược, có "truyền thống" rất hung ác và xảo quyệt. Nước Việt Nam thì mới thoát khỏi ách thống trị tàn bạo hơn 80 năm của thực dân Pháp, với một nền kinh tế lạc hậu bị kìm hãm, vơ vét kiệt quệ, với một quân đội rất giàu nhiệt tình cách mạng nhưng mới phát triển và trang bị rất thô sơ.
Dưới sự lãnh đạo kiên quyết và tài tình của Đảng ta, quân và dân Thủ đô Hà Nội đã phát huy truyền thống chống ngoại xâm lâu đời, không hề nao núng trước một kẻ địch mạnh hơn gấp bội. Quân và dân thủ đô Hà Nội, với hai bàn tay trắng, đã nêu cao khí tiết của một dân tộc anh hùng, sáng tạo ra trăm phương nghìn kế kiên quyết đánh bại kẻ thù xâm lược và với tinh thần anh dũng phi thường, đã giam chân giặc Pháp hai tháng trời trong thành phố. Đó là một thắng lợi to lớn trong lịch sử chiến tranh chống xâm lược. Bọn tư sản phản động cùng một số nhà quân sự tư sản trong và ngoài nước cho rằng: "Việt Nam được mấy hơi (!) mà cũng đối địch với đế quốc Pháp". Trước ngày Hà Nội kháng chiến, họ khuyên chúng ta nên đầu hàng(!). Nhưng chúng ta đã đứng lên và đã chiến thắng, đã làm đảo lộn những "lý luận" và mơ ước của họ. Mặt khác, qua thời gian chiến đấu, chúng ta đã thấy được bản chất của bọn thực dân xâm lược là ngoài mạnh trong yếu. Ta đã giáng vào đầu chúng những nhát búa có sức mạnh vô địch. Đó là lòng tự cường và tinh thần quật khởi của một dân tộc quyết không chịu làm nô lệ. Chúng ta càng tin tưởng vào khả năng của mình, tin tưởng vào tiền đồ chính nghĩa tất thắng. Quân và dân thủ đô Hà Nội đã vinh dự được Hồ Chủ tịch khen ngợi: Đồng bào thủ đô Hà Nội đã cùng bộ đội và dân quân tự vệ chiến đấu giam chân địch được một tháng, đã là thắng lợi, lại giam chân địch được hai tháng, là đại thắng lợi.
Cuộc chiến đấu bảo vệ thủ đô Hà Nội đã đưa lại thắng lợi to lớn bước đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc. Dưới sự lãnh đạo tài tình và dũng cảm của Đảng, quân và dân Hà Nội đã chiến đấu trong hoàn cảnh gian nan hiểm nghèo, lấy tinh thần "quyết tử để Tổ quốc quyết sinh", mưu trí và dùng vũ khí thô sơ để cản bước tiến của địch. Quân và dân thủ đô Hà Nội đã đem xương máu của mình để giữ vững từng căn nhà, từng góc phố, đã tô thắm trang sử anh hùng của thủ đô Hà Nội, góp phần xứng đáng của mình vào lịch sử vẻ vang của một dân tộc anh hùng. Chúng ta có quyền tự hào với truyền thống anh hùng ấy.
Từ ngày tiếng súng kháng chiến ở Hà Nội bùng nổ đến nay (năm 1964) đã gần 20 năm. Những người trực tiếp chiến đấu ở Hà Nội đến nay mỗi người công tác một nơi, có người đã khuất. Tài liệu lưu lại không được đầy đủ. Những người không được trực tiếp chiến đấu ở Hà Nội thì chỉ được nghe người này, người khác kể chuyện lại với từng sự việc, từng thời gian, ở từng địa phương riêng lẻ.
Trong cuốn sách này, tôi không có ý định trình bày các vấn đề của toàn bộ mặt trận, mà chỉ ghi lại sự việc theo trình tự thời gian, với những tài liệu cụ thể còn giữ được, có tham khảo đối chiếu với một số tài liệu khác, để chúng ta cùng nhau nhớ lại sự chỉ đạo vô cùng tài tình và sáng suốt của Đảng ta, tinh thần anh dũng tuyệt vời của quân và dân ta. Ngoài ra, qua tài liệu đó, chúng la khẳng định một số vấn đề về tính chất chiến tranh nhân dân, về hình thức tác chiến và vấn đề chủ động để một đơn vị ở lại Liên khu I giam chân và tiêu hao địch, rồi chủ động rút ra sau khi nhiệm vụ đó đã được hoàn thành, v.v...
Lâu ngày, tôi cũng quên mất nhiều sự việc cụ thể nên chỉ viết được một phần nhỏ bé trong toàn bộ cuộc chiến đấu anh dũng đó. Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Trần Quốc Hoàn, Hoàng Văn Thái, Nguyễn Văn Trân, Trần Độ và tất cả các đồng chí khác cùng Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã nhiệt tình giúp đỡ, bổ sung ý kiến để tôi hoàn thành cuốn sách này.
Hà Nội, tháng 9 năm 1964 TÁC GIẢ | |
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory Moderator  Bài viết: 2636  | 
| Hà Nội 60 ngày khói lửa« Trả lời #2 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2021, 08:55:22 am » | Phần thứ nhất VÀI NÉT VỀ HÀ NỘI
HÀ NỘI, THĂNG LONG XƯA
Năm 1010 (tức năm Canh Tuất), Lý Công Uẩn tức Lý Thái Tổ đã thiên đô từ thành Hoa Lư1 (Hoa Lư là kinh đô nước ta dưới thời Đinh và Tiền Lê, nay thuộc huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình) về Thăng Long.
Thăng Long nghĩa là rồng bay. Con rồng là tượng trưng cho sức mạnh vô địch, khi trở mình thì rung chuyển trời đất, khi phủ phục thì uy nghi và kiên cường.
Thủ đô nước ta mang cái tên đẹp đẽ và oai hùng đó hơn 800 năm, mãi đến năm 1831 mới đổi là Hà Nội. Hà Nội nằm bên hữu ngạn sông Hồng, phía trước có các sông Cầu, sông Kinh Thày, sông Thái Bình che chở. Sau lưng tựa vào dãy núi Tam Đảo cao ngất, quanh năm mây mù bao phủ. Bên trái, bên phải có dãy núi Đông Triều và Trường Sơn. Tam Điệp chạy dài ra sát biển Đông, như hai cánh tay rắn chắc, khuỳnh ra sẵn sàng bảo vệ Thủ đô yêu dấu. Hà Nội là hợp điểm của các đường giao thông thủy bộ, nối liền trung du với đồng bằng, núi rừng với bờ biển. Có lẽ, đó cũng là yêu tố quan trọng để Hà Nội bền vững và phát triển. Và có lẽ đó cũng là nguyên nhân trực tiếp khiến các đội quân xâm lược trước kia cố tình đánh chiếm Hà Nội rồi tỏa ra xâm chiếm dần cả nước ta.
Hà Nội có khu 36 phố phường. Đó là những nơi tiêu biểu cho cố đô Thăng Long. Và đó cũng là những "đám lửa" thiêu quân giặc ngay trong lòng Hà Nội những ngày đầu kháng chiến. Xung quanh những phố phường chi chít ấy, ở phía nam và phía tây, có biết bao biệt thự, lâu đài vừa kiên cố, vừa lộng lẫy, có đường lớn rộng thênh thang, có vườn hoa đủ màu sắc, có những hàng cây cổ thụ xòe bóng mát che kín mặt đường. Trước Cách mạng tháng Tám, đây không phải là những nơi nhân dân ta được ở mà lại là những nơi bọn viên chức trong chính quyền thực dân Pháp chiếm cứ.
Hà Nội qua các triều đại, sự phát triển có khác nhau, nhưng đến năm 1946 thì có diện tích khoảng 152 cây số vuông bao gồm: 20 chợ, 4 bến sông, 4 bến ô tô, 3 ga xe lửa, 18 đường phố, 4 dốc và 24 đại lộ, 249 phố, 55 ngõ với trên 39 vạn người. Trong đó có trên một vạn năm ngàn đồng bào theo đạo Thiên chúa và một số đồng bào theo đạo Cao đài, Tin lành. Ở Hà Nội lúc này, ngoài nhân dân ta, còn có trên một vạn Hoa kiều và hàng trăm ngoại kiều An, Pháp, Anh, Nhật v.v... cư trú.
Từ xưa, Hà Nội đã có nhiều danh lam thắng cảnh và đã là đầu mối sản xuất và lưu thống hàng hóa của bốn phương, Hà Nội ngày càng thịnh vượng, dán số ngày càng đông đúc, phố phường ngày càng phát triển.
Từ Thăng Long đến Hà Nội, Thủ đô của ta có gần một ngàn năm lịch sử. Đó là một niềm tự hào của dân tộc ta, một dân tộc anh hùng, có truyền thống đấu tranh bất khuất, đã từng lấy ít thắng nhiều, lấy yếu thắng mạnh.
Trở lại trang sử cũ: Năm 1257, sau trận Đông Bộ Đầu1 (Nay thuộc huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông), cửa ngõ phía nam của kinh thành Thăng Long, quân ta đã đánh cho quân Nguyên tan tác phải bỏ chạy về Vân Nam. Năm 1285, sát kinh thành, trong trận Chương Dương lừng lẫy, 50 vạn quân Nguyên đại bại, quân dân ta chiếm lại Thăng Long. Lần thứ ba, năm 1287, Trần Quốc Tuấn tiêu diệt hoàn toàn thủy quân cửa giặc ở sông Bạch Đằng. Chủ tướng quân Nguyên là Thoát Hoan hồn bay phách lạc, phải rời bỏ Thăng Long đem quân bộ tháo chạy. Tuy nhiều lần thất bại, nhưng bọn phong kiến phương bắc vẫn không chịu từ bỏ dã tâm xâm lược của chúng. Năm 1406, nhà Minh lại đem quân giày xéo đất nước ta. Cha con Hồ Quý Ly không được nhân dân và các tầng lớp xã hội tiến bộ lúc ấy ủng hộ nên có chống cự song thất bại. Không chịu khuất phục dưới ách thống trị hà khắc của quân Minh, năm 1418, Lê Lợi, tiêu biểu cho lực lượng xã hội tiến bộ đương thời, khởi nghĩa ở đất Lam Sơn. Năm 1426, sau chín năm kháng chiến gian khổ, quân ta đã chiếm lại hầu khắp đất đai cả nước và tiến tới vây hãm quân Minh tại kinh thành Thăng Long. Cuộc chiến đấu bao vây quân địch ở Thủ đô diễn ra suốt một năm trời. Vòng vây của quân dân ta ngày càng siết chặt. Trong lúc vây hãm địch, quân dân ta đã tổ chức nhiều đợt tấn công vào thành và đã ba lần đánh tan viện binh của giặc từ Trung Quốc kéo sang. Quân Minh càng đánh càng thua, cuối cùng chúng phải xin giảng hòa và rút về nước. Mùa xuân năm 1428, vừa tròn 10 năm kiên trì chống giặc, dân tộc ta đại thắng, kinh đô Thăng Long yêu quý lại được giải phóng.
Hơn 300 năm sau, Thăng Long lại ghi vào sử sách những chiến công vô cùng oanh liệt. Năm 1788, nhà Thanh đã cho Tôn Sĩ Nghị đem 20 vạn quân sang xâm lược nước ta và đánh chiếm Thăng Long. Nhân dân cả nước ta vùng dậy chống giặc. Sau một năm anh dũng kháng chiến, quân ta đã tiến về giải phóng Thăng Long. Sáng ngày 5 tháng giêng âm lịch năm 1789, sau khi quân ta diệt các đồn Hạ Hồi và Ngọc Hồi, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đốc quân đánh vào kinh thành. Tại đồn Loa Sơn (gò Đống Đa), xác giặc chất cao như núi, 20 vạn quân Thanh tan vỡ, xéo lên nhau mà chạy. Trưa mồng 5, Nguyễn Huệ kéo đại quân vào thành Thăng Long, ăn mừng thắng trận.
Chiến công hiển hách ấy, chấm dứt nạn xâm lược của phong kiến Trung Quốc đồng thời cũng thủ tiêu tận gốc nạn tương tàn giữa các tập đoàn phong kiến Lê - Trịnh - Nguyễn đã diễn ra trong mấy năm, mở đường cho cuộc khôi phục nền thống nhất nước nhà ở đầu thế kỷ XIX.
Gần 100 năm sau khi thoát khỏi ách chiếm đóng của nhà Thanh, ngày 20 tháng 11 năm 1873, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Hà Nội lần thứ nhất. Mặc dầu nhà nước phong kiến chống cự yếu ớt, nhưng cả Hà Nội vẫn vùng lên chống giặc.
Ngày 20 tháng 4 năm 1882, thực dân Pháp đánh chiếm Hà Nội lần thứ hai. Ngay từ phút đầu, người dân Hà Nội đã tự tay châm lửa đốt nhà mình, hàng dãy phố lửa bốc ngùn ngụt cản bước tiến của giặc. Hàng ngàn người tự vũ trang bằng giáo mác, gậy gộc kéo đến trước đình Quảng Văn (Cửa Nam bây giờ) xin đi đánh giặc. Mặt khác khắp nơi đều nhất loạt đánh chiêng, khua trống, gõ mõ, hò reo để hư trương thanh thế và hỗ trợ cho tinh thần chiến đấu của quan quân trong thành. Tướng sĩ của Hoàng Diệu xông lên mặt thành chém đầu quân giặc đến phút cuối cùng.
Nhưng, căm giận thay! Triều đình nhà Nguyễn Gia Long đã phản bội dân tộc, quỳ gối đầu hàng, dâng Tổ quốc ta cho giặc. Hà Nội nung nấu hận thù. Sau đó, các phong trào yêu nước, các tổ chức chống thực dân Pháp thống trị liên tiếp nổi lên. Đông Kinh Nghĩa Thục, nhóm sĩ phu yêu nước tiến bộ xuất hiện khoảng tháng 3 năm 1907. Năm 1908, vụ Hà thành đầu độc của binh sĩ Việt Nam làm nội ứng phối hợp với nghĩa quân Đề Thám đã làm cho thực dân Pháp giật mình hoảng sợ. Tiếp đó, Nguyễn Văn Túy - một công nhân nhà máy xe lửa Gia Lâm - và một chiến sĩ Việt Nam Quang Phục hội ném bom khách sạn "Gà vàng" (Coq d’or) ở phố Tràng Tiền ngày 26 tháng 4 năm 1913 giết hai tên trung tá Pháp Mônggơrãng (Montgrand), Sapuy (Chapuis) và một số lính Pháp. Hành động đó đã gây chấn động trong toàn quốc. | |
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory Moderator  Bài viết: 2636  | 
| Hà Nội 60 ngày khói lửa« Trả lời #3 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2021, 08:55:52 am » | Tư bản Pháp đặt chân tới Hà Nội. Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời và bắt đầu bổ nhát cuốc đầu tiên đào mồ chôn giai cấp bóc lột và bọn đế quốc xâm lược. Các cuộc đấu tranh từ thấp đến cao của công nhân liên tiếp nổ ra. Năm 1919, đã có bãi công đòi đuổi một tên giám đốc người Pháp. Đặc biệt thời kỳ này, Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội - tiền thân chủ yếu của Đảng Cộng sản Đông Dương - xuất hiện và nãm 1926, đặt trụ sở bí mật của Kỳ bộ Bắc kỳ tại Hà Nội. Từ đó phong trào bãi công ngày càng lan rộng. Ngày 9 tháng 5 năm 1927 ở Hà Nội, đã nổ ra mấy cuộc biểu tình của một vạn rưỡi lao động, học sinh và những người buôn bán nhỏ... phản đối tờ "Dân báo" thóa mạ các chiến sĩ cách mạng Việt Nam. Phong trào đấu tranh của quần chúng phát triển. Tổ chức lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam được củng cố. Đến nay, nhìn lại dĩ vãng, giai cấp công nhân và nhân dân Thủ đô lấy làm tự hào về những sự kiện lịch sử còn lưu truyền: tháng 3 năm 1929, tại số nhà 5D phố Hàm Long, chi bộ cộng sản đầu tiên của Đông Dương được thành lập và sau đó Đảng Cộng sản Đông Dương1 (Thời kỳ này, 3 tổ chức cộng sản ở Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ chưa hợp nhất) ra đời trong một cuộc hội nghị vào cuối tháng 5 đầu tháng 6 ở phố Khâm Thiên. Từ đó, phong trào đấu tranh lại nổ ra liên tục với mục đích và tính chất rõ rệt hơn hẳn các năm về trước, ở Hà Nội, bọn thực dân Pháp dăng ra cả một màng lưới nhà tù, cảnh sát, mật thám, v.v... tưởng như không ai có thể lọt được qua mắt chúng. Vậy mà đồng chí Trần Phú, Tổng bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương đã viết bản luận cương chính trị nổi tiếng ở ngay trong căn nhà của một tên công chức cao cấp Pháp - số 90 Hàng Bông Thợ Nhuộm. Người bồi của tên Pháp nhận đồng chí là người nhà. Sự việc ấy nói lên rằng dù trong hoàn cảnh nào, người chiến sĩ cách mạng cũng luôn luôn được sự ủng hộ của quần chúng cần lao.
Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời. Bọn thực dân Pháp thẳng tay đàn áp nhân dân ta. Hà Nội những ngày này tràn ngập không khí khủng bố, nhưng các chiến sĩ cộng sản vẫn một lòng một dạ trung thành với sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân, của dân tộc. Năm 1936, Chính phủ mặt trận bình dân Pháp lên cầm quyền; lợi dụng thuận lợi khách quan đó, phong trào cách mạng ở Hà Nội được đẩy mạnh. Nhóm cộng sản công khai ra tờ báo "Lao động" (Le travail) viết bằng chữ Pháp. Hàng loạt tổ chức cơ sở của Đảng, tổ chức quần chúng được thành lập trong hàng ngũ công nhân. Đốm lửa đấu tranh ngày càng lan rộng. Uy tín của Đảng ngày càng cao. Đế quốc Pháp thống trị và bóc lột nhân dân và giai cấp vô sản Việt Nam thì giai cấp vô sản Việt Nam và giai cấp vô sản Pháp càng siết chặt hàng ngũ vững bước đấu tranh. Nhân dân Pháp nhiệt tình ủng hộ nhân dân Việt Nam.
Ngày mồng 1 tháng 5 năm 1938, trên 2 vạn người thuộc đủ các tầng lớp nhân dân Hà Nội tham dự cuộc mít tinh kỷ niệm ngày Quốc tế lao động, hô vang khẩu hiệu đấu tranh cho tự do dân chủ.
Những năm sau, mặc gông cùm, máy chém, mặc lưỡi lê, họng súng dã man của kẻ thù, phong trào cách mạng ờ Hà Nội không hề lùi bước. Lòng dân Hà Nội hận thù càng chứa chất, khí thế đấu tranh càng sôi sục. Tấm gương hy sinh cao cả với khí phách anh hùng của đồng chí Hoàng Văn Thụ, Tổng bí thư của Đảng, mãi mãi còn sáng chói. Tại Bạch Mai, trước giờ bị xử bắn, đồng chí đã lớn tiếng tố cáo và lên án giai cấp thống trị và bọn đế quốc thực dân xâm lược, đồng chí vẫn vững lòng tin: Cách mạng của giai cấp vô sản nhất định thành công, dân tộc Việt Nam nhất định thắng!
Sang thời kỳ tiền khởi nghĩa, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Đảng, phong trào cách mạng ở Hà Nội cuồn cuộn dâng lên như bão biển. Thời cơ đã đến! Cả dân tộc vùng lên! Cả Hà Nội quật khởi! Các cuộc mít tinh tuần hành thị uy liên tiếp nổ ra, bừng bừng khí thế khởi nghĩa.
Bão táp cách mạng nối lên như trời long đất lở. Sáng sớm ngày 19 tháng Tám năm 1945, cùng với lực lượng vũ trang cách mạng, hơn 20 vạn nhân dân Hà Nội vùng lên khởi nghĩa đập tan chính quyền bù nhìn. Chính quyền cách mạng ra đời. Bầu trời thủ đô Hà Nội rực sáng. Ngàn vạn cờ đỏ sao vàng tung bay, Hà Nội giải phóng! Giai cấp vô sản đã mở ra cho Hà Nội một trang sử mới, một trang sử mà nhân dân lao động nắm chính quyền.
Nhớ lại những chiến công hiển hách, những sự tích anh hùng của thủ đô Việt Nam, ta sẽ thấy trong "60 ngày khói lửa" mùa Đông năm 1946, nhân dân Hà Nội đã tỏ ra xứng đáng với truyền thống kiên cường, bất khuất của cha ông. | |
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory Moderator  Bài viết: 2636  | 
| Hà Nội 60 ngày khói lửa« Trả lời #4 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2021, 08:58:08 am » | TRƯỚC NGÀY KHỞI CHIẾN
Năm 1945, Đồng minh thắng phát xít Đức - Ý - Nhật. Chiến tranh thế giói lần thứ hai kết thúc, ở Việt Nam, Cách mạng tháng Tám thành công. Theo hiệp ước của Đồng minh, quân đội Tưởng Giới Thạch vào giải giáp quân đội phát xít Nhật ở Đông Dương, từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc; quân đội Anh giải giáp quân đội phát xít Nhật từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam. Nhưng sự thật không phải chỉ có như thế. Con cú vọ bị đánh đuổi bay xa, nhưng vẫn quay cổ lại tiếc miếng mồi béo bở. Quân Pháp theo sau quân Anh trở lại Nam Bộ với mục đích lập lại nền đô hộ cũ. Được quân Anh dung túng, giúp sức, quân Pháp khiêu khích và tiến đánh Sài Gòn vào ngày 23 tháng 9 năm 1945.
Nhưng giặc Pháp đã lầm. Sài Gòn không bao giờ khoanh tay khuất phục. Cả Nam Bộ đứng lên kháng chiến. Nhân dân cả nước chi viện cho Nam Bộ, quyết không bao giờ để cho thực dân Pháp chiếm miền Nam ruột thịt của mình.
Ngày 19 tháng 11 năm 1945, quân Pháp đổ bộ vào Nha Trang. Đầu tháng 5 năm 1946, chúng huy động 15.000 quân đánh chiếm Tây Nguyên và dùng miền này làm bàn đạp tiến đánh các miền khác ở Trung Bộ. Giặc Pháp sấn sổ như một tên cướp giật. Trong khoảng thời gian ngắn, chúng tung quân đi đánh chiếm các tỉnh Nam Bộ và Nam Trung Bộ...
Trước hành động xâm lược của giặc Pháp, ngày 25 tháng 11 năm 1945, Đảng Cộng sản Đông Dương ra chỉ thị kháng chiến, kiến quốc, vạch ra đường lối kháng chiến và chỉ rõ cần triệt để vận dụng chiến tranh du kích trên khắp miền Nam.
Ở Bắc Bộ, hai mươi vạn quân Tưởng Giới Thạch tiến vào, đem theo "một đàn chó sói" - bọn "cõng rắn cắn gà nhà" - Việt Nam Quốc dân đảng và Việt Nam Cách mạng Đồng minh của Vũ Hồng Khanh và Nguyễn Hải Thần với mưu đồ: Lật đổ chính quyền nhân dân, lập chính quyền bù nhìn tay sai đế quốc.
Trong lúc đó, 3.000 tàn binh Pháp đã bị Nhật đánh bại ngày 9 tháng 3 năm 1945, phải chạy trốn sang đất Trung Quốc, nay lại vượt biên giới tiến vào Lai Châu rồi tiến đánh Quỳnh Nhai, Tuần Giáo. Bọn Pháp từ Thượng Lào tiến qua Điện Biên Phủ, rồi dần dần lấn tới Sơn La, Hòa Bình.
Giữa lúc Tổ quốc lâm vào cảnh vô cùng hiểm nghèo, tình hình trở nên vô cùng phức tạp: nước ta sau gần một thế kỷ bị đế quốc Pháp thống trị, bị vơ vét tận xương tủy, chính quyền nhân dân mới thành lập, lực lượng vũ trang của ta mới tổ chức, quần chúng mới thoát khỏi gông cùm nô lệ, tuy bừng bừng khí thế đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, nhưng tổ chức đội ngũ chưa được củng cố thì thù trong giặc ngoài xúm lại định xâu xé nước ta. Nhưng Đảng và Hồ Chủ tịch đã khéo léo lái con thuyền Tổ quốc vượt qua cơn sóng gió. Hiệp định sơ bộ Việt - Pháp được ký kết ngày mồng 6 tháng 3 năm 1946. Ta hòa hoãn với Pháp để tranh thủ thời gian xây dựng đất nước, xây dựng lực lượng, đồng thời gạt 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch ra ngoài. Bọn "chó săn" bàng hoàng như bị sét đánh ngang đầu, một số trở về con đường chính nghĩa, một số cuốn gói chạy theo quân Tưởng, một số ngoan cố dần dần bị ta tiễu trừ, số còn lại quay ra bí mật bắt tay với giặc Pháp.
Nhưng, như mọi người đều biết, bọn đế quốc không dễ dàng nhả miếng mồi ngon.
Theo hiệp định sơ bộ, quân đội Pháp cùng với quân đội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa làm nhiệm vụ tiếp phòng thay cho quân Tưởng Giới Thạch rút về nước. Ngày 1 tháng 3 năm 1946, quân Pháp, do tướng Lơcléc (Leclerc) chỉ huy, xuất phát từ Nam Bộ đổ bộ lên Hải Phòng, gồm các đơn vị sư đoàn bộ binh thuộc địa thứ 9(9e DIC), sư đoàn thiết giáp thứ 2 (2e DB) và một lữ đoàn lính thủy đánh bộ, tổng cộng là 15.000 tên. Sớm ngày 6 tháng 3, chúng vào Hải Phòng... Đến ngày 18 tháng 3, Lơcléc tiến vào Hà Nội cùng với một số đơn vị của sư đoàn thiết giáp thứ 2 gồm khoảng 1.000 tên với 200 xe. Sau đó 4.000 quân Pháp bị Nhật giam trong thành được giải thoát1 (Tướng Giăng Mác-săng, Thảm kịch Đông-dương (Le drame indochinois), Nhà xuất bản J.Peyrounet. Pa-ri. 10-1953, tr.61, 62, 63. Về số 4.000 quân Pháp bị giam trong thành, trong cuốn Số phận Đông-dương (Le destin de rindochine) của Xa-bát-chi-ê cũng nói như vậy).
Bản chất ăn cướp, dù khoác áo cà sa, nói năng lịch sự đến thế nào chăng nữa thì sớm muộn vẫn lòi mặt ăn cướp. Hiệp định sơ bộ ký chưa ráo mực, thực dân Pháp đã tiến hành hàng loạt âm mưu lật đổ Chính phủ ta, định đánh úp Hà Nội để tiến tới thôn tính cả nước ta. Tờ báo "Đề huề" (L’Entente) của chúng xuất bản tại Hà Nội trắng trợn vu khống Chính phủ ta. Chúng liên tiếp tăng quân tới Hà Nội, nhưng vẫn già mồm chối cãi quanh co. Tại nước Pháp, báo "Giải phóng", báo "Du kích" và báo "Chiến đấu" cũng tố cáo hành động mập mờ, bí ổi ấy của bọn Pháp ở Việt Nam.
Trước ngày khởi chiến, ở Hà Nội, lực lượng của giặc Pháp lên tới khoảng 6.500 quân, đa số là lính lê dương, lính tinh nhuệ thiện chiến và 62 xe tăng, xe bọc sắt, 19 máy bay, 42 pháo, 5.000 súng trường, 600 liên thanh nhẹ, 180 liên thanh nặng1 (Phụ lục - Vị trí và lực lượng địch trước ngày khởi chiến (trang 208)). Chúng bố trí các cứ điểm, chẹn các cửa ngõ của thành phố, thành một vành đai bao vây Hà Nội, khống chế các vị trí chiến thuật. Giặc Pháp âm mưu dùng quân cơ động mạnh trong thành tấn công chia cắt Hà Nội ra từng mảng, bao vây tiêu diệt ta ở từng khu vực. Nơi nào có cơ quan đầu não, có nhà máy, hoặc bộ đội của ta thì chúng đưa nhiều lực lượng đến đóng kèm ngay bên cạnh, với lý do để bảo vệ an ninh(!), nhưng thực chất là để thực hiện âm mưu bất ngờ, nhanh chóng tiêu diệt quân đội và cơ quan Chính phủ ta. Ví dụ như giặc Pháp đưa 200 quân tới chiếm đóng khách sạn Mêtơrôpôn cách Bắc Bộ phủ2 (Nay là Vụ Lễ tân, Bộ Ngoại giao) vài chục thước. Vì Bắc Bộ phủ là nơi làm việc của Hồ Chủ tịch và một số cơ quan Chính phủ ta. Ngoài ra chúng còn đưa quân tới chiếm đóng nhiều nơi khác như nhà ngân hàng, máy điện, máy nước, ga xe lửa, cầu Long Biên, v.v... cùng với âm mưu đen tối như vậy.
Rõ ràng kẻ cướp đã lộ mặt! Chúng đã đem vào Hà Nội một lực lượng quân sự lớn mạnh, chuẩn bị một màn cướp đoạt chớp nhoáng, với thái độ hung hăng, kẻ cả, chủ quan kiêu ngạo. Nhưng cũng từ đó, chúng bắt đầu chuẩn bị lao đầu vào một rừng lửa rực cháy ngất trời, để tự thiêu hủy mình một cách thảm hại. | |
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory Moderator  Bài viết: 2636  | 
| Hà Nội 60 ngày khói lửa« Trả lời #5 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2021, 08:59:41 am » | Ngay sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Đảng ta đã chủ động chuẩn bị mọi mặt về chính trị, kinh tế và quốc phòng, để sẵn sàng đối phó một cuộc chiến tranh xâm lược mới do lòng tham vô đáy của bọn đế quốc quay lại hòng bóp chết chính quyền cách mạng non trẻ của chúng ta. Đảng và Chính phủ đã phát triển mau chóng các lực lượng vũ trang chủ lực và tự vệ, lập các kho dự trữ lương thực, các xưởng chế tạo vũ khí đạn dược theo phương pháp thủ công, đã kêu gọi nhân dân tự rèn đúc vũ khí thô sơ, sẵn sàng xông ra tiền tuyến bảo vệ Tổ quốc. Các lớp đào tạo cán bộ quân sự và chính trị liên tiếp được mở ra ở các địa phương và trung ương, cho tới tháng 12 năm 1946, ở Hà Nội, chúng ta đã xây dựng được một lực lượng vũ trang tập trung - Vệ Quốc Đoàn - có 5 tiểu đoàn gồm 2.515 người, 1.500 súng trường (trong đó có một nửa là súng khai hậu và súng bắn chim, một nửa gồm đủ các loại súng trường Nhật, Mỹ, Mútxcơtông, Anhđôsinoa...) Trung, đại liên có 4 khẩu, bom ba càng1 (Là loại bom do công binh xưởng Việt Nam chế tạo, có cán dài khoảng 3 mét, dùng sức người lao vào xe tăng, xe bọc sắt của địch. Bom nổ, xe cơ giới của địch bị phá hủy) 80 quả, lựu đạn 1.000 quả, đạn các loại 2 vạn viên, badôca 1 khẩu, étxăng crếp 200 chai, 7 khẩu pháo cao xạ 75 ly cũ của Pháp ta đem dùng làm pháo mặt đất để bắn gián tiếp và một sơn pháo 75 ly, 1 pháo 25 ly đặt ở các pháo đài Láng, Xuân Tảo, Xuân Canh, Ba Đê, Thủ Khối. Ngoài số súng nói trên, phần lớn các đơn vị bộ đội chủ lực đều trang bị bằng dao găm, mã tấu, giáo, mác, kiếm và các loại vũ khí cũ. Nếu tính trung bình thì 2 người mới có 1 khẩu súng |
|
|