Hà Văn Nọa-Người Anh hùng “một tay” trung dũng, kiên cường-Bài 1: Từ làng quê cách mạng đến chiến trường Điện Biên
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Liệt sĩ Hà Văn Nọa là người lính trưởng thành trong những năm tháng khốc liệt của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Từ miền quê giàu truyền thống cách mạng, Hà Văn Nọa sớm vào bộ đội, dạn dày trận mạc qua các chiến dịch lớn và luôn nổi bật bởi sự gan dạ, trung dũng, kiên cường. Mất một cánh tay nhưng không rời trận tuyến, đồng chí Hà Văn Nọa bước vào Chiến dịch Điện Biên Phủ với dấu ấn của người Đại đội trưởng mưu trí, quả cảm, trước khi anh dũng ngã xuố
Làng Ngọc Hòa, xã Ninh Giang, thành phố Hải Phòng (trước là xã Vĩnh Hòa, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương) những ngày đầu xuân hiện lên hiền hòa như một bức tranh quê thuần Việt. Cánh đồng màu trải dài trước mắt, xanh mướt mát đến tận chân trời. Con đường nhỏ chạy men theo bờ ruộng, gió thổi mang theo hương đất mới xới, hương đồng quê thân thuộc và ấm lành. Đi cạnh tôi là anh Hà Văn Thân, dáng người rắn rỏi, hiền hậu, đôi mắt sáng mà trầm tĩnh. Anh Thân trước là Trung tá Quân nhân chuyên nghiệp công tác tại Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng Vạn Gia đóng quân ở Quảng Ninh. Năm 2022, anh nghỉ hưu và về quê hương tiếp tục công tác. Anh Thân tự hào giới thiệu từng thửa ruộng, từng lối đi của làng và khi nhắc tới ông nội của mình là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Liệt sĩ Hà Văn Nọa, giọng anh chậm lại, ấm hơn như gom hết sự kính trọng trong từng lời kể. Ở vùng quê yên bình này, câu chuyện về người anh hùng vẫn được lớp lớp cháu con gìn giữ, kể lại như một phần máu thịt của đất làng Ngọc Hòa.
Anh Hà Văn Thân hồi tưởng về người ông của mình. Ông Hà Văn Nọa sinh năm 1928. Năm 1944 - 1945, khi Việt Minh ở phủ Ninh Giang bắt đầu xây dựng cơ sở, nhiều thanh niên trong vùng được vận động tham gia hoạt động bí mật. Tháng 7-1945, được các ông Nguyễn Xuân Chỉnh, Nguyễn Xuân Lỉnh, Nguyễn Xuân Chắt, Nguyễn Trọng Ninh… giác ngộ, chàng trai 17 tuổi Hà Văn Nọa hăng hái gia nhập Đội Tuyên truyền xung phong của làng.
Hà Văn Nọa cùng đồng đội rải truyền đơn, đưa báo Việt Minh vào từng nhà, từng ngõ; treo cờ đỏ sao vàng trên cây bàng trước đình Chạ; kêu gọi quần chúng đứng lên “Kháng Nhật, cứu quốc”. Ngày 10-5-1945, Đội Tuyên truyền xung phong dẫn đầu đoàn người trong làng kéo tới phủ Ninh Giang phá kho thóc Nhật. Gần 200 tấn thóc được chia cho dân nghèo, cứu sống biết bao mạng người. Tháng 8-1945, Hà Văn Nọa lại cùng lực lượng trong làng tiến vào phủ Ninh Giang, giành chính quyền về tay nhân dân.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Hà Văn Nọa tiếp tục hoạt động trong Đoàn Thanh niên và Đội Tự vệ, ngày ngày luyện tập, bảo vệ chính quyền non trẻ. Ngày 19-12-1946, khi tiếng súng kháng chiến toàn quốc vang lên, làng kháng chiến được dựng, phong trào thanh niên tòng quân lan rộng. Chính trong bối cảnh ấy, tháng 2-1947, ông Hà Văn Nọa gia nhập Vệ quốc đoàn. Ban đầu, ông chiến đấu trong lực lượng bộ đội địa phương thuộc Chiến khu 3, nơi Trung đoàn 44 hoạt động mạnh ở vùng Hải Dương. Cuối năm 1947, khi Bộ Tổng chỉ huy quyết định thành lập Tiểu đoàn 160, Hà Văn Nọa nằm trong số hơn 1.000 cán bộ, chiến sĩ ưu tú được chọn từ toàn Chiến khu 3 để bổ sung. Ông chính thức chia tay vợ con để bước vào cuộc chiến đấu trường kỳ của dân tộc.
Theo lời kể của anh Thân, hình ảnh ông Hà Văn Nọa trong những năm tháng chiến tranh hiện về rõ nét. Ông Nọa tham gia các chiến dịch lớn của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Ở chiến dịch nào, tên ông cũng gắn liền với những trận đánh táo bạo, những mũi tiến công mở đường trong giờ phút cam go nhất.
Trên các cương vị từ tiểu đội trưởng, trung đội phó đến trung đội trưởng, ông Hà Văn Nọa luôn là người đi đầu, bình tĩnh giữa lửa đạn, quyết đoán trong từng mệnh lệnh. Trong Chiến dịch Biên Giới 1950, Hà Văn Nọa bị thương nặng ở cánh tay phải. Ông được chuyển sang điều trị tại bệnh viện quân đội ta đặt ở Thủy Khẩu, bên đất bạn Trung Quốc. Các bác sĩ đã làm hết sức để giữ lại cánh tay cho người chiến sĩ nhưng vết thương quá nặng, xương nát, thịt rách, nhiễm trùng lan rộng… Cuối cùng, họ buộc phải chấp nhận tháo rời khớp cánh tay phải để cứu Hà Văn Nọa khỏi nguy hiểm tính mạng.
Ngày 27-12-1950, Đại đoàn 312 ra đời. Sau đó, Tiểu đoàn 11 (Tiểu đoàn Phủ Thông) được điều chuyển về Trung đoàn 141 của đại đoàn. Hơn ba năm quân ngũ, rong ruổi khắp Việt Bắc, kinh qua các chiến dịch lớn, hàng chục trận đánh, sống giữa lằn ranh sinh tử… ông Hà Văn Nọa chưa một lần nao núng. Thế nhưng giờ đây, khi phải nằm lại tuyến sau, lòng ông bứt rứt như có lửa đốt.
Ông Hà Văn Nọa tự nhủ, còn một cánh tay, mình vẫn còn chiến đấu được. Thể chất cha mẹ trao, võ nghệ luyện từ nhỏ vẫn còn đó, sức khỏe, nghị lực và lòng căm thù giặc vẫn còn đó. Giặc Pháp vừa càn vào quê hương, đốt sạch nhà cửa, bắn giết dân làng, dỡ cả nhà thờ họ của ông. Thù nhà, nợ nước chồng chất đến nghẹn. Trong lúc kháng chiến còn bộn bề khó khăn, sao có thể buông súng?
Khi vết thương bắt đầu ổn hơn, Hà Văn Nọa lập tức đặt ra cho mình một chế độ tập luyện nghiêm khắc. Ông rèn tay trái từ những việc nhỏ nhất như buộc dây, tự mặc áo, ăn uống, cầm bút… Rồi Hà Văn Nọa tập đến những động tác khó hơn như lên nòng bắn súng ngắn, siết cò súng tiểu liên, tập ném lựu đạn sao cho chuẩn xác, luyện các thế đánh bằng tay trái.



