Hà Văn Tấn – người đọc lịch sử từ chữ trên đá và dấu tích dưới lòng đất
Mới 23 tuổi, Hà Văn Tấn đã tham gia hiệu đính “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi. Từ những trang sách cổ đến các di chỉ khảo cổ, ông dành hơn nửa thế kỷ xây dựng một nền sử học dựa trên chứng cứ.
Một mảnh gốm không biết kể chuyện. Một chiếc rìu đá cũng không thể tự nói nó được tạo ra vào thời nào, thuộc về cộng đồng nào và đã nằm dưới lòng đất bao nhiêu thế kỷ. Muốn nghe được tiếng nói của những vật tưởng như câm lặng ấy, nhà nghiên cứu phải biết quan sát, so sánh và quan trọng nhất là không được để mong muốn của mình đi trước chứng cứ.
Giáo sư Hà Văn Tấn đã dành gần trọn cuộc đời để làm công việc đó.
Ông sinh ngày 16 tháng 8 năm 1937 tại xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh – vùng đất cũng là quê hương của đại thi hào Nguyễn Du. Năm 1957, mới 20 tuổi, Hà Văn Tấn tốt nghiệp đại học loại xuất sắc và được giữ lại giảng dạy tại Bộ môn Lịch sử cổ đại Việt Nam.
Chỉ ba năm sau, khi nhiều người cùng tuổi còn đang bắt đầu con đường nghề nghiệp, Hà Văn Tấn đã tham gia hiệu đính và chú thích “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi. Công trình được xuất bản năm 1960, lúc ông mới 23 tuổi. Để làm việc với một văn bản chữ Hán từ thế kỷ XV, người nghiên cứu không chỉ cần biết ngôn ngữ cổ mà còn phải đối chiếu địa danh, lịch sử, văn bản học và những bản chép khác nhau.
Năm 1961, Hà Văn Tấn cùng Trần Quốc Vượng công bố “Sơ yếu khảo cổ học nguyên thủy Việt Nam”. Cũng trong giai đoạn này, hai nhà nghiên cứu trẻ tham gia biên soạn những công trình đầu tiên về lịch sử xã hội Việt Nam thời nguyên thủy và phong kiến. Khi ấy Hà Văn Tấn mới 24 tuổi.
Ông bước vào ngành khảo cổ trong hoàn cảnh Việt Nam còn thiếu thốn cả phương tiện lẫn tài liệu chuyên môn. Những cuộc điều tra thực địa không chỉ diễn ra trong phòng làm việc. Các nhà khảo cổ phải đến tận di chỉ, quan sát từng lớp đất, đo đạc, phân loại và ghi chép vị trí của từng hiện vật. Một sai sót nhỏ có thể làm mất mối liên hệ giữa hiện vật với không gian và niên đại của nó.
Từ dấu tích của các nền văn hóa Phùng Nguyên, Đông Sơn, Sa Huỳnh đến những văn bản khắc trên bia đá và chuông đồng, Hà Văn Tấn luôn tìm cách đặt tư liệu Việt Nam trong bối cảnh rộng hơn của Đông Nam Á. Ông học và sử dụng nhiều ngoại ngữ để trực tiếp tiếp cận tài liệu quốc tế thay vì chỉ dựa vào bản dịch.
Các đồng nghiệp cho biết ông thông thạo hoặc sử dụng tốt bảy ngoại ngữ cùng chữ Hán. Nhưng vốn ngôn ngữ ấy không nhằm phô diễn học vấn. Nó giúp ông đối chiếu những cách giải thích khác nhau về nguồn gốc văn hóa Việt Nam, nhất là trước các quan điểm từng cho rằng văn hóa Đông Sơn không có nguồn gốc bản địa.
Với Hà Văn Tấn, lòng yêu lịch sử không có nghĩa là tô đẹp quá khứ bằng suy đoán. Càng trân trọng lịch sử dân tộc, người nghiên cứu càng phải nghiêm khắc với chứng cứ. Đất, đá, kiểu dáng hiện vật, kỹ thuật chế tác và niên đại đều phải được đặt trong một chuỗi lập luận có thể kiểm tra.
Ông không giới hạn mình trong một chuyên ngành. Bên cạnh khảo cổ học tiền sử và sơ sử, Hà Văn Tấn còn nghiên cứu lịch sử cổ – trung đại, Phật giáo, đình và chùa Việt Nam, văn bản học cùng phương pháp luận sử học. Những cuốn sách như “Lịch sử Phật giáo Việt Nam”, “Chùa Việt Nam”, “Theo dấu các văn hóa cổ” hay “Chữ trên đá, chữ trên đồng” cho thấy phạm vi nghiên cứu rộng hiếm có của ông.
Từ những dòng chữ khắc trên bia đá, chuông đồng và cột kinh, ông phục dựng những lát cắt về tôn giáo, xã hội và đời sống tinh thần của người Việt qua nhiều thế kỷ. Nhờ vậy, một văn bản chỉ vài dòng không còn là những ký tự rời rạc. Nó trở thành đầu mối dẫn đến cả một thời đại.
Hà Văn Tấn còn đặc biệt coi trọng việc đào tạo người kế tục. Trong cuộc đời nghiên cứu và giảng dạy, ông công bố khoảng 250 công trình khoa học, xuất bản 27 đầu sách và hướng dẫn 20 nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về sử học và khảo cổ học. Năm 1980, ông được phong hàm Giáo sư. Sau này, ông được trao danh hiệu Nhà giáo Nhân dân và Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ.
Cùng với các giáo sư Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê và Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn được nhiều thế hệ sinh viên gọi bằng tên “Lâm – Lê – Tấn – Vượng”, bốn nhà giáo có ảnh hưởng lớn đối với nền sử học Việt Nam hiện đại.
Ông qua đời ngày 27 tháng 11 năm 2019, thọ 82 tuổi. Nhưng công việc của ông vẫn tiếp tục trong các giáo trình, những công trình khảo cổ và trong phương pháp làm nghề được truyền lại cho nhiều thế hệ học trò.
Di sản của Hà Văn Tấn không chỉ là 27 cuốn sách hay hàng trăm bài nghiên cứu. Điều ông để lại còn là một nguyên tắc giản dị nhưng nghiêm khắc: lịch sử phải được dựng lên từ chứng cứ.
Bởi quá khứ không tự lên tiếng. Nó cần những người đủ kiên nhẫn cúi xuống trước một mảnh gốm, đọc từng chữ đã mờ trên tấm bia và chấp nhận sửa lại nhận định của chính mình khi chứng cứ mới xuất hiện. Hà Văn Tấn là một trong những người đã dành cả đời để lắng nghe quá khứ theo cách ấy.



