Bài viết

Hai Bà Trưng và Đại tướng Vũ thị Thục Nương

Hải Phòng13/01/2026Trần Trung Kiên2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Hai Bà Trưng (chữ Nôm: 婆徵; mất ngày mùng 6 tháng 2 năm Quý Mão 43) là tên gọi chung của Trưng Trắc (chữ Hán: 徵側)Trưng Nhị (徵貳), hai chị em Bà Trưng có một số sách ghi là chị em sinh đôi. Hai Bà Trưng là một trong những Nữ Anh Hùng đầu tiên Dân tộc Việt. Hai Bà Trưng khởi binh chống lại quân Đông Hán, dựng nền độc lập đặt tên nước là Đại Viêt, với kinh đô tại Mê Linh. Hai Bà được quân dân tôn lên làm vua, hiện là Trưng Nữ Vương. Sau khi cuộc khởi nghĩa này bị quân Đông Hán dưới sự chỉ huy của Mã Viện đánh bại, truyền rằng vì không chịu khuất phục, Hai Bà đã nhảy xuống sông Hát Giang tự vẫn không để giặc bắt. Tương truyền sau đó xác Hai Bà Trưng nổi lên giạt vào bãi sông Hồng vì thế gọi là Bãi Đồng Nhân Nội) nhân dân thương xót làm tượng, lập Đền thờ. Sau Lý Anh Tông cho dựng lại vào năm 1160 tại phường Bố Cái tức bãi Đồng Nhân cũ. Năm 1819 thời Nguyễn Gia Long, do bãi bị sạt lở nên dân dời đền vào trường Giảng Võ cũ của thời Lê, thuộc đất thôn Hương Viên, tổng Thanh Nhàn huyện Thọ Xương tức địa điểm hiện nay. ( nay là quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội)

Sự nghiệp

Dưới sự cai trị tàn bạo của Thái thú Tô Định, một số Lạc tướng Mê Linh và Chu Diên bàn mưu chống lại. Để trấn áp các thủ lĩnh Việt, Tô Định bắt giết Thi Sách chồng của Trưng Trắc, là một trong những thủ lĩnh Việt. Tháng 3, năm Canh Tý (40 sau CN ), để trả thù nhà, đền nợ nước, Trưng Trắc cùng với em gái là Trưng Nhị cùng với các Nữ Tướng đã hiệu triệu người Việt ở quận Giao Chỉ nổi dậy đánh chiếm trị sở quận Giao Chỉ ở Mê Linh. Quan quân Tây Hán bại trận, Tô Định phải bỏ chạy về quận Nam Hải. Theo lời hiệu triệu của Hai Bà Trưng, dân Việt ở các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều nổi dậy hưởng ứng. Hai Bà đã thu phục được 65 thành trì. Sau khi thắng trận, bình định trong các vùng đã giải phóng, với sự ủng hộ của quân và dân Việt, Bà Trưng Trắc lên ngôi vua, lấy Vương hiệu là Trưng Nữ Vương. Hai Bà đã miễn thuế cho dân trong 2 năm.

Lúc đó bên Trung Quốc, sau khi đánh bại Nhà Tân của Vương Mãng, Lưu Tú lên ngôi Hoàng đế hiệu là Quang Vũ Đế phục hưng nhà Hán, đóng đô ở Lạc Dương ở phía Đông nên gọi là Nhà Đông Hán.

Ngày 30 tháng 1 năm Tân Sửu (41S.CN), Vua Quang Vũ nhà Đông Hán đã ra lệnh cho các quận Trường Sa, Hợp Phố và Giao Châu, chuẩn bị lương thảo, quân đội để cất quân sang đánh Hai Bà Trưng. Nhà Đông Hán lúc đó có rất nhiều mưu sỹ và tướng giỏi, đã sai Mã Viện là một tướng giỏi nhất của Đông Hán, làm Phục Ba Tướng quân, Phù Lạc hầu Lưu Long làm phó Tướng, tuyển mấy vạn quân tinh nhuệ, và 2000 thuyền chiến chia hai đường thủy bộ sang đánh Hai Bà Trưng. Khi đến Hợp Phố để hội quân thì Đoàn Chí chết bệnh. Năm Nhâm Dần ( năm 42 sau CN), quân Mã Viện tiến theo đường ven biển, mở núi làm đường hơn nghìn dặm, đến Lãng Bạc (ở phía tây Tây Nhai của La Thành) thì gặp quân Hai Bà Trưng đánh mấy trận, vì ít quân nên Hai Bà Trưng phải rút lui.

Quân Hán tiến đến Long Biên hai bên đã giao chiến dữ dội. Quân Hán không hợp thủy thổ phương Nam, nhiều người bị chết, trong đó có Bình Lục hầu Hàn Vũ. Hai Bà Trưng mới dựng nước, quân binh chưa được rèn tập, quân khí, lương không đủ, có sách ghi rằng một số tướng lĩnh không phục, trong quân chia rẽ, nên không tập trung được binh lực chống lại quân Đông Hán đã được rèn luyện lại quen chiến trận. Hai Bà Trưng thấy thế giặc mạnh lắm, đánh mấy trận phải thua, lại lui quân về giữ Cấm Khê (sử chép là Kim Khê). Tại Cấm Khê, quân của Hai Bà tiếp tục bị đánh bại. Quân Hán chém hơn nghìn người, bắt hàng hơn 2 vạn quân của Hai Bà Trưng. Theo sử Việt và truyền thuyết thì ngày 6 tháng 2 năm 43 sau CN, Hai Bà chạy đến xã Hát Môn, huyện Phúc Lộc ( nay là huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây) thế bức quá, không để cho giặc bắt, Hai Bà gieo mình xuống sông Hát Giang tự tận.

Sau khi Hai Bà Trưng mất, cuộc chiến của người Việt còn kéo dài một thời gian là 39 ngày nữa với sự cầm cự kiên cường của đội nữ binh tinh nhuệ do Đông Nhung Đại Tướng quân Vũ thị Thục Nương thống lĩnh, dựa vào địa hình đầm lầy hiểm trở của rừng ngập mặn ven biển Lục Hải (nay là vùng duyên hải tỉnh Thái Bình). Quân Đông Hán đã phục kích khi đội quân Bà Vũ thị Thục Nương vận chuyển lương thực. Trận chiến cuối cùng đội quân của Bà trong vòng vây quân Đông Hán kéo dài đến ngày 17 tháng Ba năm 43 sau CN thì kết thúc khi Bà cùng tất cả binh sỹ đều tử tiết. Nhân dân vùng duyên hải miền Bắc Việt nam lấy ngày này làm ngày chính kỵ Bà Vũ thị Thục Nương cùng binh sỹ của Bà.

Một số sách Thống chíHậu Hán Thư thì Hai Bà Trưng đều bị chém. Theo sách Hậu Hán Thư phần Lưu Long truyện thì Lưu Long đốc quân đuổi theo bắt được Trưng Nhị còn trong Mã Viện truyện thì cho biết quân Mã Viện khi truy sát quân nổi dậy tới Cấm Khê đã chém được cả Trưng Trắc lẫn Trưng Nhị và đem đầu về Lạc Dương.

Sử Việt và truyền thuyết dân gian Việt Nam đều ghi nhận Hai Bà Trưng nhẩy xuống tuẫn tiết tại sông Hát Môn. Xem xét các tượng thờ cổ của Hai Bà Trưng đều thấy Hai Bà giơ hai tay lên trời – rõ nhất là Đền Hai Bà Trưng ở Đồng Nhân – Hà nội là nơi tương truyền xác Hai Bà Trưng trôi dạt về đây. Hình tượng này khá điển hình của người chết đuối. Lại xét các binh khí, đồ thơ tế tự trong đền thờ Hai Bà Trưng đều sơn mầu đen,…Những học giả thiên về việc Hai Bà chết vì vũ khí cho rằng vì kiêng mầu vũ khí là đỏ (?) nên sơn đen. Có một câu hỏi tại sao vũ khí lại là mầu đỏ ? Theo thuyết ngũ hành về mầu thì đỏ là Hỏa, không có liên quan gì đến vũ khí. Mầu đen là Thủy, và lễ giỗ gần 2000 năm qua của dân gian Việt phải xuất phát từ hiện thực lịch sử về cái chết, ngày chết của Hai Bà Trưng cũng như các ngày lễ giỗ các tướng lĩnh của Hai Bà như Bà Vũ thị Thục Nương, Lê Chân,…. Truyền thống tín ngưỡng Việt từ xưa cấm, kỵ nói sai, hiểu sai về Thánh, Thần, phải rất trung thực, tôn kính các bậc tiên liệt.

Thực hiện chế độ cai trị trực tiếp của quan lại Nhà Đông Hán. Sau khi đã chiếm lại được nước Việt từ Hai Bà Trưng, Mã Viện mới rút quân trở về nước năm 44 SCN. Quân Hán bị thương vong rất nhiều, khi tàn quân trở về chỉ còn một phần ba quân số ban đầu vào đất Việt là còn về đến Trung nguyên.

Đánh giá

Sử gia Lê Văn Hưu viết:” Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật nam, Hợp phố và 65 thành ở Lĩnh ngoại đều hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương, dễ như trở bàn tay, đủ biết hình thế đất Việt ta có thể dựng được cơ nghiệp bá vương. Tiếc rằng trong khoảng hơn nghìn năm, bọn đàn ông chỉ cúi đầu bó tay, làm thần bộc cho người phương Bắc, há chẳng xấu hổ với hai chị em họ Trưng là đàn bà ư!”

Sử gia Ngô Sỹ Liên bàn:” Họ Trưng giận Thái thú nhà Hán bạo ngược, vung tay hô một tiếng mà quốc thống nước ta xuýt được khôi phục, khí khái anh hung không những lúc sống dựng nước xưng vương, mà sau khi chết còn có thể chống ngăn tai họa; phàm gặp việc tai thương hạn lụt, đến cầu đảo không việc gì là không ứng. Cả

bà Trưng em cũng thế. Vì là đàn bà mà có đức hạnh kẻ sỹ, cái khí hung dũng trong khoảng trời đất không vì thân chết mà kém đi”.

Vua Dực Tông Hoàng đế nhà Nguyễn (1847 – 1883, Niên hiệu Tự Đức) viết trong Khâm định Việt sử thông giám cương mục: “Hai Bà Trưng thuộc phái quần thoa, thế mà hăng hái quyết tâm khởi nghĩa, làm chấn động cả triều đình Hán. Dẫu rằng thế lực cô đơn, không gặp thời thế, nhưng cũng đủ làm phấn khởi lòng người, lưu danh sử sách. Kìa những bọn nam tử râu mày mà chịu khép nép làm tôi tớ người khác, chẳng những mặt dày thẹn chết lắm” !

Thời kỳ Hai Bà Trưng là một trang sử vàng oanh liệt trong lịch sử dựng nước, giữ nước của Dân tộc Việt Nam. Vì trải qua nhiều thăng trầm của thời thế nên sách sử Việt chỉ còn lưu mấy trang ngắn, những tướng lĩnh thời Hai Bà Trưng gần hết đều được nhân dân lập đền thờ phụng. Nhưng công trạng của các Bà đã cùng Hai Bà Trưng lập nên công trạng hiển hách lại chưa được ghi vào chính sử nước nhà thật là sơ xuất với Tiền Nhân Nước Đại Việt !

Tại phương Bắc, Hán Quang Vũ Đế mới hoàn thành việc thống nhất Trung Quốc sau chiến tranh kéo dài từ cuối thời nhà Tân. Trong nước chỉ còn những cuộc nổi dậy chống đối nhỏ, vì vậy vua Hán có thời gian chú tâm đến việc cướp lại đất Giao Chỉ của người Lạc Việt.

Xét lịch sử Thế giới cũng như Việt Nam, nhân vật lịch sử Hai Bà Trưng cùng các Nữ tướng thời Hai Bà Trưng đều là những Nữ Anh Hùng kiệt xuất vượt lên trên nhiều bậc Anh hùng của mọi thời đại. Nhất là các Bà lại nổi dậy khởi nghĩa chống sự thống trị của một nước lớn là cường quốc thế giới lúc bấy giờ. Hoàn cảnh nước nhà bị nô dịch và sự nghiệp cứu nước, giải phóng Dân tộc của các Bà dù ngắn ngủi những rực rỡ, chứng tỏ các Bà là những vị Anh Hùng rất vĩ đại trong lịch sử Việt Nam cũng như lịch sử Thế giới.

Di sản

Hai Bà Trưng cùng các nữ tướng được tôn vinh là các vị Nữ Anh hùng Dân tộc Việt Nam, và được thờ phụng tại nhiều đền thờ ở khắp miền Bắc Việt Nam và cả ở vùng Hoa Nam Trung Quốc ngày nay. Đối với Hai Bà có nhiều đền thờ, trong đó lớn nhất là Đền Hai Bà Trưng ở quận Hai Bà Trưng, Hà Nội và đền Hai Bà Trưng tại thôn Hạ Lôi, xã Mê Linh, huyện Mê Linh,Vĩnh Phúc nay là Mê Linh, Hà Nội – quê hương nơi phát tích của Hai Bà.

Sang thời hiện đại, sau hòa bình lập lại ở miền Bắc Việt Nam, đoàn đại biểu cấp cao lần chính thức sang thăm Việt Nam đã đến làm lễ dâng hương tại Đền thờ Hai Bà Trưng tại Hà Nội. Đã có nhiều ý kiến khác nhau giải thích sự kiện này, tuy nhiên tại sao đoàn cấp cao Chính Phủ Trung Quốc không đến dâng hương tại đền Trần Hưng Đạo, hay các đền khác thờ các vị Anh hùng Dân tộc Việt Nam chống xâm lược phương Bắc? Có phải vì ở Trung Quốc cũng thờ Hai Bà nên đến lễ Hai Bà một công đôi việc, vừa là tâm linh cầu cho chuyến đi thành công, vừa là ngụ ý chính trị xóa bỏ hận thù. Tên Hai Bà Trưng được đặt cho nhiều đường phố, địa danh, các tổ chức xã hội, các trường,… tại Việt Nam.

Đại Nam quốc sử diễn ca có đoạn kể về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng đã trở thành quen thuộc đối với người Việt:

Bà Trưng quê ở Châu Phong

Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên

Chị em nặng một lời nguyền

Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân

Ngàn tây nổi áng phong trần

Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên

Hồng quần nhẹ bước chinh yên

Đuổi ngay Tô Định, dẹp yên biên thành

Kinh kỳ đóng cõi Mê Linh

Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta

Ba thu gánh vác sơn hà

Một là báo phục hai là Bá Vương

Uy danh động tới Bắc Phương

Hán sai Mã Viện lên đường tấn công

Hồ Tây đua sức vẫy vùng

Nữ nhi địch với anh hùng được sao!

Cẩm Khê đến lúc hiểm nghèo

Hai Bà thất thế cùng liều với sông!

Trước là nghĩa, sau là trung

Kể trong lịch sử anh hùng ai hơn.

Hàng năm, vào ngày 6 tháng 2 âm lịch, là ngày giỗ hay còn gọi là Lễ Hội tưởng nhớ Hai Bà tổ chức tại khắp nơi ở Việt Nam. Một số nữ tướng của Hai Bà Trưng hy sinh ở vùng lãnh thổ phía bắc của nước Đại Việt lúc đó, nay là vùng Quảng Đông, Quảng Tây, Trung quốc cũng được tế lễ theo phong tục cũ của người Việt.

Tại tỉnh Hồ Nam (Trung Quốc) hiện vẫn còn miếu thờ Trưng Vương (miếu này đã được quan Việt là Nguyễn ThựcNgô Thì Nhậm đi sứ Trung Quốc đến lễ về viết lại vào sử sách).Sử ghi sự việc đền thờ Hai Bà Trưng ở miền Nam Trung Quốc như sau:

Nguyễn Thực (1554 – 1637) người làng Vân Điềm (tên nôm là làng Đóm), nay thuộc xã Vân Hà, huyện Đông Anh. Ông đỗ tiến sĩ nhị giáp khoa thi đình đầu tiên của nhà Lê Trung hưng mở tại Thăng Long (năm 1595). Ông là danh Nho một thời, khi làm quan được cử đi sứ sang Trung Quốc, ông có viết một số thơ khi đi sứ, sau này Lê Quý Đôn thế kỷ XVIII, tìm lại được có một bài cho biết là ở Trung Quốc, phía nam dãy núi Ngũ Lĩnh có đền thờ Trưng vương.

Đó là bài Nam hoàn chí Ngũ Lĩnh (về Nam đến rặng núi Ngũ Lĩnh):

Ngũ Lĩnh điêu nghiêu trấn Việt thùy
Hứa đa cảnh trí chiếm thanh kỳ
Uất thông đông hậu thùy thiên cán
Nùng diễm xuân tiền mai nhất chi
Đồng trụ Trưng vương lưu cựu tích
Thạch nhai Trưng tướng phục tùng từ
Phong cương tự cổ phân trung ngoại
Thậm tiễn thiên công xảo thiết thi

Dịch:

Núi Ngũ Lĩnh chất ngất trấn ở vùng biên cương đất Việt
Biết bao cảnh trí tươi tắn kỳ lạ
Sau mùa đông ngàn cây tùng xanh um
Trước mùa xuân một nhành mai diễm lệ
Cột đồng còn lưu dấu cũ Trưng Vương
Đường đá nghiêng bên ngôi đền Trưng tướng
Chốn biên cương từ xưa phân rõ trong, ngoài
Rất phục thợ trời sao khéo đặt bày

Thời Xuân Thu, núi Ngũ Lĩnh là địa giới của người Việt ở phía nam Hồ Động Đình, tỉnh Hồ Nam. Sau này, Ngô Thì Nhậm (1746- 1803) người Tả Thanh Oai (làng Tó) thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội, năm 1793, ông có đi sứ nhà Thanh, có viết Hoàng Hoa đồ phả – một tập thơ kèm theo các bản vẽ. Ngô Thì Nhậm tức cảnh viết bài Phân Mao lĩnh (Núi Phân Mao) như sau:

Nhất đái thanh sơn Sở, Việt giao
Hoàng Mao dịch lộ nhận Phân Mao
Thiên thư bất tận Hành Sơn Lĩnh
Địa khí hoàng phù Nhạn Trạch Mao
Trưng Trắc kiếm mang khai động phủ
Uy đà quế đố lạc sơn sào
Phong lai giải uấn tay nam lợi
Vị ứng Hùng Bi vạn nhận cao

Nghĩa là:

Một dải núi xanh ở nơi giáp giới với Sở và Việt
Trên đường đến trạm Hoàng Mai nhận ra đó là núi Phân Mao
Sách trời định ra không quá núi Hành Sơn
Khí đất làm trôi ngược lông chim nhạn ở Nhạn Trạch
Lưỡi kiếm của bà Trưng mở ra động phủ
Sâu quế của Triệu Đà còn đầy trong hang núi
Gió từ tây nam làm nguôi cơn nồng
Coi thường núi Hùng Bi dù cao tới muôn sải

Ngô Thì Nhậm ghi lời chú giải rằng: “Núi Phân Mao ở địa giới Hành Sơn, tỉnh Hồ Nam, có cỏ mao rẽ hai ngả Nam Bắc, trên đường đi có biển đề Phân Mao lĩnh”.

Như vậy, tại tỉnh Hồ nam Trung quốc có đền thờ Hai Bà Trưng. Điều này đúng với hiện thực lịch sử là địa giới nước Việt Âu Lạc là gồm hai tỉnh lưỡng Quảng và miền Bắc Việt Nam ngày nay.
Như vậy thì núi này là chỗ ranh giới hai nước Sở, Việt. Như đã nêu ở trên, Sở là khu vực tỉnh Hồ Nam và Việt là khu vực hai tỉnh Lưỡng Quảng ngày nay. Và vậy là, theo bài thơ này, tại Hồ Nam có đền thờ Bà Trưng Trắc bên hồ Động Đình. Có thể sau khi Mã Viện đánh bại Hai bà Trưng, nhà Đông Hán đã bắt nhiều tướng lĩnh, quân sỹ của Hai bà về quản thúc tại Linh Lăng ở phía Nam Hồ Nam. Chính những tù binh Việt đã xây dựng đền thờ Hai Bà Trưng trên đất cũ của người Việt. Có thể từ đền thờ ở đây, dân gian Trung Quốc lưu truyền Hai Bà Trưng đánh Mã Viện ở tỉnh Hồ Nam.

Ngày nay tại các tỉnh ở vùng Hoa Nam Trung Quốc vẫn có tục thờ vua Bà, một vị thần linh thiêng trong quan niệm của người dân địa phương. Vua Bà theo nhiều ý kiến xét đoán chính là thờ Hai Bà Trưng, do thờ ngay trên đất sau này thuộc về Trung Quốc nên phải nói thác ra như vậy. Cũng vì theo truyền kỳ, Vua Bà rất linh thiêng nên trải qua nhiều triều đại phong kiến Trung Quốc đều không dám phá bỏ đền thờ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn